Xem Nhiều 11/2022 #️ Các Món Ăn Ngon Ở Ninh Thuận (Cập Nhật 08/2020) / 2023 # Top 19 Trend | Misshutech.com

Xem Nhiều 11/2022 # Các Món Ăn Ngon Ở Ninh Thuận (Cập Nhật 08/2020) / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Món Ăn Ngon Ở Ninh Thuận (Cập Nhật 08/2020) / 2023 mới nhất trên website Misshutech.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các món ăn ngon ở Ninh Thuận

Cùng Phượt – Ninh Thuận vùng đất đầy nắng và đầy gió, nhưng chính những cái nắng, cái gió ấy đã tạo nên một Ninh Thuận với đặc trưng riêng không thể lẫn với bất kỳ vùng đất nào. Ngoài những vùng đất của bãi biển đẹp, những tháp Chăm huyền bí và nền văn hóa Champa lâu đời các món ăn ngon ở Ninh Thuận cũng rất phong phú, đa dạng và có những nét riêng. Ngoài ẩm thực, khi trở về sau một chuyến đi các bạn đừng quên mang về một chút mặn mà của hải sản khô, chút ngọt ngào của nho tươi, chút nồng đắng của rượu nho, chút hương thơm đậm đà của tỏi, chút mặn ngọt thơm tinh khiết của nước mắm để làm quà cho gia đình và bạn bè nhé.

Vùng biển Ninh Thuận có nhiều loài hải sản phong phú như: cua, ghẹ, mực, ốc giác, ốc hương, ốc nhung, sò lông, sò dương, sò điệp, hào,…. tùy vào sở thích mà du khách có thể yêu cầu nhà hàng chế biến theo cách mình thích nướng, luộc, hấp hoặc nướng mỡ hành tùy thích.

Nếu đến Vĩnh Hy, các bạn hãy nhớ là những quán hải sản ở khu vực bến thuyền sẽ có giá rẻ hơn. Những bè nổi chi phí cao hơn nhưng lại mang lại cảm giác thích thú khi vừa ăn vừa lênh đên trên mặt nước.

Khác với các loại mực khô thông thường, để có mực một nắng người ta phải chọn mực từ những con mực vừa mang từ biển về và hãy còn tươi rói, phải rửa mực bằng nước biển sau đó chỉ phơi duy nhất có một lần nắng. Việc phơi mực cũng thật kỳ công để làm sao thân ngoài con mực đã ráo hẳn nhưng bên trong thịt mực vẫn còn tươi rói và khi nướng, mực vẫn giữ được độ tươi, thịt trắng thơm và dẻo.

Cầu gai còn gọi là nhum biển hay nhím biển, được ví như là nhân sâm của biển vì nhiều tác dụng hữu ích. Người ta thường chế biến cầu gai thành nhiều món ăn ngon, như cầu gai ăn sống với cải bẹ xanh, mù tạt, cầu gai nấu cháo, cầu gai nướng mỡ hành.

Khá gần Bình Hưng, Bình Ba nên ở Vĩnh Hy các bạn cũng có thể dễ dàng tìm và thưởng thức món tôm hùm béo ngậy, ngọt lịm.

Sò điệp là một loại hải sản quen thuộc với phần cùi thịt trắng ngà thơm ngon mà không dai, thích hợp cho cả xào lẫn rang và là một trong những loại nguyên liệu thực phẩm để chế biến thành nhiều món ăn ngon và bổ dưỡng như: Sò điệp rang muối tiêu, sò điệp nướng mỡ hành, sò điệp hấp cuộn miến

Ghẹ vùng sát biển luôn chắc thịt, tươi ngon vì được bắt và chuyển về bến sớm. Đơn giản và nhanh nhất là hấp hoặc luộc, dù người kén ăn thế nào cũng khó có thể chối từ những món ăn hấp dẫn như thế.

Ốc vú nàng là loài ốc hình chóp lệch, trên đỉnh có một cái núm nhỏ, vỏ ngoài màu đen xám, mặt trong lấp lánh xà cừ. Ốc vú nàng luộc là món ăn đơn giản nhưng không kém phần hấp dẫn. Món này ăn nóng cùng với muối tiêu, chanh. Ngoài ra, ốc nướng trên lò than hay gỏi ốc cũng có hương vị đậm đà khó quên.

Cá mú là loại cá nước mặn, được người tiêu dùng ưa chuộng bởi thịt của nó trắng, dai và ngọt. Có ba loại cá mú là cá mú đỏ, cá mú cọp và cá mú đen, nhưng cá mú đỏ là loài cá ngon nhất.

Cơm gà Phan Rang được nấu bằng gạo dẻo, thơm. Trước khi nấu, gạo được vo sạch, ướp thêm gừng, tỏi giã nhuyễn để tạo mùi thơm. Muốn có dĩa cơm bắt mắt, thường người nấu trộn thêm vào gạo chút bột nghệ. Gà chặt từng miếng khổ vừa lớn. Món này ăn nóng kèm với một ít rau răm, dưa leo và nước mắm chua ngọt đã pha chế hay chấm cùng muối ớt. Loại nước chấm đặc biệt khác nên kể thêm là nước hèm, loại nước chấm độc đáo chỉ có ở Phan Rang. Cũng tỏi cũng gừng, nhưng ta thêm vào đó một ít hèm rượu và đường tạo nên vị chua ngọt khá đặc trưng. Hèm chan vào cơm để giảm bớt độ ngấy do nhiều dầu mỡ. Cơm gà Phan Rang phải ăn kèm rau răm mới “đúng bài”, có lẽ rau răm đặc biệt hợp với gà, nên càng ăn càng thấy ngon.

Có thể nói khí hậu và điều kiện Ninh Thuận rất thích hợp cho cây nho sinh trưởng và phát triển. Nho Ninh Thuận thu hoạch ba vụ/năm, có hương vị đặc trưng hơn các loại nho khác. Với vị ngọt hơi chua nhẹ, vỏ mỏng và có hạt nên khi thưởng thức chắc chắn sẽ nhớ mãi. Có nhiều giống khác nhau nhưng trong đó có hai loại nổi tiếng là nho đỏ và nho xanh. Nho đỏ có dạng hình cầu, khi chín vỏ có màu đỏ hoặc đỏ thẫm trong rất đẹp mắt. Nho xanh có vỏ dày hơn nho đỏ, khi chín quả ngả sang xanh phơn phơn vàng.

Cừu là đặc sản nổi tiếng của Ninh Thuận được chế biến thành những món ăn ngon như: cừu nướng, cừu đút lò, chả cừu, cari cừu, lẩu cừu…được rất nhiều du khách yêu thích khi tới du lịch Ninh Thuận.

Bánh căn là món cực kỳ đơn giản và dễ làm, không cần những nguyên liệu cầu kỳ, khó tìm kiếm, không cần phải qua nhiều công đoạn chế biến, chỉ cần một chút khéo tay là bạn có thể cho ra lò những chiếc bánh ngon. Muốn có bánh căn ngon, người ta thường dùng loại gạo hạt tròn, loại gạo địa phương mà phải là gạo cũ càng tốt. Điểm độc đáo là bánh căn được đổ bằng những khuôn đất, được chế tạo từ bàn tay tài hoa của những người thợ gốm Chăm Bàu Trúc.

Riêng nước chấm của loại bánh này ở Phan Rang cũng khá đặc biệt. Người sành ăn thì sẽ pha trộn vào tô của mình cả bốn loại nước chấm gồm: nước mắm chua ngọt, mắm đậu phộng, mắm nêm và nước cá kho với dưa hồng.

Khác hẳn với tô bún bò, tô phở nóng hổi và nhiều chất dinh dưỡng… bún mắm nêm là một món ăn khá dung dị nhưng đầy sức hấp dẫn và lạ miệng với hầu hết nhiều người. Ở món ăn này, điểm nhấn quan trọng chính là từ mắm nêm, đây là món ăn mà người Phan Rang làm để ăn trong những lúc biển động dài ngày, trong những khi mưa gió mịt mù, không thể đi chợ được. Vị ngọt của thịt, vị thơm của rau sống, vị cay cay của ớt, vị nồng của tỏi, vị chua của thơm và chanh… kết hợp với hương vị mắm nêm đặc trưng, tạo nên một món ăn rất cuốn hút với tất cả mọi người.

Thịt sứa không chỉ thơm ngon, giòn sật đặc trưng mà còn có giá trị dinh dưỡng cao. Một tô bún sứa thơm ngon gồm bún, sứa tươi, trứng cút, đậu hũ, điểm xuyết thêm những cọng ngò xanh và bên trên rắc vài hạt đậu phộng. Món này được ăn kèm bắp chuối, rau muống bào, giá sống và quan trọng nhất là mắm ruốc.

Cái khác biệt đầu tiên của món bánh canh Phan Rang chính là ở sợi bánh. Có nơi làm bánh canh bằng bột lọc, có nơi dùng bột gạo để chế biến nhưng khi chế biến thì sợi bánh lại có vẻ lớn và dày. Ở Phan Rang, sợi bánh canh chỉ to hơn sợi bún bình thường.

Điểm khác thứ hai mà có lẽ là yếu tố tạo nên hương vị đặc trưng của món ăn này. Đó là nước dùng. Có nơi dùng nước xương heo đã lọc kỹ làm nước dùng, nhưng nước dùng bánh canh Phan Rang lại được nấu hoàn toàn từ cá. Nhiều loại cá được sử dụng như cá thóc, cá nhồng, cá thu ảo…sau khi được làm sạch cắt đầu, đem lóc hết thịt, dùng xương ninh lấy nước.

Một trong những món ăn ngon và đặc sắc của Ninh Chữ, được nhiều du khách tìm kiếm để thưởng thức. Món bún được chế biến đậm đà, cá tươi và dai, kết hợp với vị ngọt thanh của nước dùng. Món bún này khá phổ biến và có thể dễ dàng tìm thấy dọc các vỉa hè.

Cá mai là một loại cá nhỏ, mảnh, khoảng chừng ngón tay trỏ, giống cá cơm nhưng ít mùi tanh hơn, trong suốt nên có thể làm gỏi rất phù hợp. Loài cá này tập trung nhiều ở Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận, Vũng Tàu, Phú Quốc…Đặc biệt nếu các bạn có đến Ninh Chữ, Vĩnh Hy hay bãi biển Cà Ná, hầu hết đều có thể dễ dàng tìm được một nhà hàng phục vụ món ăn mang đậm hương vị biển này. Gỏi cá mai có hai loại là gỏi khô và gỏi ướt. Khi ăn gỏi cá mai khô thực khách vắt thêm chanh lên cho cá chín, trộn với rau thơm cắt nhỏ, đậu phộng rang và lấy bánh tráng nướng xúc từng miếng ăn kèm. Còn đối với gỏi cá ướt thì dầm cá trong một loại nước chấm đặc biệt, được làm bằng đậu phộng và một số gia vị khác, cuốn bánh tráng ăn kèm với các loại rau thơm.

Dông là loại bò sát sinh sống trong hang trên những vùng đồi cát nóng. Thức ăn chính của con dông chủ yếu là chồi non từ cây xương rồng, cỏ dại. Người dân địa phương đặt bẫy hoặc đào bắt chúng ở trong hang dưới lòng đất sâu chừng 1,5m. Thịt dông thơm, trắng như thịt gà, rất ngọt, chắc, xương rất mềm nhưng da thì dòn sừn sựt.

Đặc sản Ninh Thuận mua về làm quà

Ninh Thuận nổi tiếng là vùng đất trồng nho ngon nên rượu vang nho ở đây cũng được coi là hàng cực phẩm, là báu vật của người trồng nho. Nổi nhất ở đây có thể kể đến những thương hiệu như Para Hill, Hai Dầu, rượu vang nho Phan Rang, rượu vang nho Ninh Thuận.

Miền đất Phan Rang – Ninh Thuận với khí hậu khắc nghiệt nhưng lại khá phù hợp để trồng trọt, phát triển loại nông sản khá hữu dụng này trong cuộc sống. Tỏi Phan Rang không to, vỏ rất trắng, lõi nhỏ và nhiều tép, có vị cay và thơm nồng, đã trở thành thương hiệu đặc sản nổi tiếng cả nước. Người nông dân thu hoạch sau đó phơi khô, không sử dụng chất bảo quản, nên rất an toàn khi sử dụng. Một trong những điều thú vị là trong bạt ngàn ruộng tỏi thường, họ thường thu hoạch được loại tỏi một củ rất quý. Có tên gọi khác là tỏi cô đơn hoặc tỏi mồ côi (loại tỏi này hiện chỉ có ở Lý Sơn và Phan Rang) bởi chỉ có một tép duy nhất, được dùng để ngâm rượu làm thuốc trị được nhiều bệnh .

Xã Cà Ná gần biển, sẵn muối, nhiều cá, thêm nắng gió Ninh Thuận nên hội đủ điều kiện thuận lợi để trở thành vùng nước mắm ngon nổi tiếng. Nước mắm Cà Ná đạt chuẩn sẽ có màu nâu hổ phách đậm, mùi thơm đặc trưng, độ đạm cao nhất 30, không quá gắt theo phong cách nước mắm Phú Quốc, vị mặn vừa, lưu hậu vị lâu.

Hạt muối Cà Ná được người tiêu dùng ưa chuộng bởi vị mặn đậm đà mà thanh. Nước mắm Cà Ná thơm ngon nổi tiếng xa gần, cũng một phần nhờ hạt muối này.

Tìm trên Google:

các món ăn ngon ở Ninh Thuận

đặc sản Ninh Thuận làm quà

ăn gì khi du lịch Ninh Thuận

các quán ăn ngon ở Ninh Thuận

đến Ninh Thuận nên ăn gì

địa điểm ăn uống Ninh Thuận

ẩm thực Ninh Thuận

món ăn vặt ninh thuận

các món ăn vỉa hè ở ninh thuận

mua gì ở ninh thuận

ninh thuận có gì ngon

Các Món Ăn Ngon Ở Nghệ An (Cập Nhật 08/2020) / 2023

Các món ăn ngon ở Nghệ An

Cùng Phượt – Nghệ An là mảnh đất non nước hữu tình đẹp như bức tranh thủy mặc. Vẻ đẹp kỳ thú pha lẫn chút nguyên sơ luôn làm say đắm bất cứ ai đã từng đi qua và dừng chân ghé lại nơi này. Không chỉ có thế, trên mảnh đất hồn hậu, địa linh nhân kiệt đã sản sinh ra nhiều đặc sản mà ai “lỡ” nếm thử một lần cũng vương vấn mãi không thôi. Các món ăn ngon ở Nghệ An mang chất riêng đặc biệt đến nỗi bất cứ ai có cơ hội được thưởng thức đều nhớ mãi không quên.

Bất cứ ai khi đến xứ Nghệ đều thử ăn đặc sản nổi tiếng nơi này là thịt lươn, nào là súp lươn, cháo lươn, lươn om chuối đậu… Qua bàn tay khéo léo của người đầu bếp, sơ chế, gia giảm và nấu nướng mà con lươn sống trong bùn đất, tanh lại mang hương vị đậm đà, ngon miệng đến vậy.

Súp lươn kiểu Nghệ An được nấu khá đơn giản, không sánh đặc như các loại súp khác. Lươn làm sạch được xào với một ít hành tỏi, màu điều và màu cay cho chín tới, xương được ninh làm nước dùng, thêm hành và rau răm là có món súp lươn ăn cùng bánh mì nướng giòn hay bánh đa Đô Lương nữa là đúng vị súp lươn Nghệ An.

Cháo được nấu nguyên hạt gạo, hầm đến khi chín nhừ, tự nhuyễn ra chứ không phải gạo xay nhỏ như ở nhiều nơi. Lươn được luộc vừa chín, gỡ bỏ xương, xào trên chảo có phi hành tăm cho dậy mùi. Cháo lươn thơm nồng, ấm bụng, có màu vàng của nghệ.

Cũng giống nhiều nơi khác, miến lươn Nghệ An có miến xào miến nước. Nước dùng trong và ngọt cũng được nấu từ xương thêm gừng đập dập. Thịt lươn được xào mềm chứ không phải lươn giòn như ở miền Bắc.

Nghệ An có món bánh đa Đô Lương nổi tiếng, món này kết hợp với lươn đã được xào chín mềm, nước sốt đậm đà, hơi cay làm nên món lươn xúc bánh đa nổi tiếng ở xứ Nghệ.

Những miếng thăn lươn được dàn mỏng, tẩm ướp với cốt nghệ, sả, ớt… bên trong có thêm sợi mỡ mỏng được cuộn cùng thịt lươn để khi nướng đỡ bị khô, bọc bên ngoài là lá dứa, làm nên món lươn nướng thơm ngon vô cùng.

Với tên gọi lạ lẫm, chắc chắn du khách sẽ muốn được thưởng thức một lần món cháo này. Nguyên liệu chính để làm món này là bột mỳ, sau khi nhào thật nhuyễn sẽ cán thành bột và cắt thành những sợi nhỏ tròn. Nước dùng để chan được ninh từ xương và sau đó thêm một ít tí tô, hành khô và thịt bằm trộn đều.

Bánh mướt Diễn Châu cũng nổi tiếng như bánh cuốn Thanh Trì (Hà Nội) vậy. Bánh mướt thường dài như ngón tay trỏ của người lớn, cuộn tròn, mềm, mịn, trắng trong. Bánh được cuộn tròn với hành phi bên trong. Bánh chỉ được làm bằng bột gạo tẻ – gạo được ngâm nước rất lâu sau đó được vớt ra xay nhuyễn và được ủ trong nhiều giờ liền. Bánh mướt rất dễ ăn, bạn chỉ cần ăn kèm một chén nước mắm vắt chanh với ớt tươi cũng đã thấy ngon miệng. Nếu bạn dùng bánh mướt để đãi khách thì cũng có thể dùng kèm với bò nướng lụi, thịt lợn nướng, bò lá lốt mỡ chài, chả nem rán…

Bánh đa có ở nhiều tỉnh thành tại nước ta, nhưng nhắc đến bánh đa miền Trung là nhớ ngay đến bánh đa Đô Lương của Xứ Nghệ. Chiếc bánh nhỏ nhắn, có đường kính khoảng 20 cm, bên trên rắc nhiều vừng đen nên khi ăn rất bùi và thơm. Ở Đô Lương, người dân thường nướng bánh đa bằng than hoa hoặc chiên với dầu ăn, mỡ để tạo nên chiếc bánh mỏng nhẹ.

Bánh ngào hay còn gọi là bánh mật là thứ đặc sản dân dã của người dân xứ Nghệ. Xắn một miếng bánh vàng óng đưa vào miệng, vị ngọt ngào của mật mía, dẻo của nếp và thơm thơm mùi gừng sẽ hấp dẫn bạn ngay từ lần thử đầu tiên. Bánh ngào thường được thưởng thức vào lúc trời se lạnh, hay có chút mưa phùn. Bánh ngon nhất khi ăn nóng, múc ra từng bát nhỏ, vừa ăn vừa thổi mới cảm nhận được hết hương vị.

Các món hải sản ngon ở Cửa Lò

Cửa Lò là vùng biển nổi tiếng về đặc sản ghẹ với những con ghẹ to, thịt chắc và thơm ngon khi được chế biến. Ghẹ Cửa Lò có quanh năm mà lúc nào cũng dồi dào. Do vậy, du khách tới du lịch Cửa Lò bất kỳ vào thời gian nào đều có thể thưởng thức các món ăn ngon từ ghẹ, như: ghẹ rang muối, ghẹ hấp me, ghẹ nướng… trong đó, ghẹ rang me là món ăn được du khách ưa chuộng nhất.

Những con tôm tít (theo cách gọi một số nơi khác là con bề bề) dân dã một thời của những vùng quê miền chân sóng biển Cửa Lò giờ đây trở thành món đặc sản trong các nhà hàng, quán ăn. Thịt tôm tít ngon, ngọt, dai chắc, đầu tôm cho nhiều gạch vừa bùi, ngậy, vừa đậm đà hương biển. Tôm tít có thể chế biến nhiều món ăn, như: hấp, luộc, nướng…

“Mực nháy” Cửa Lò Nghệ An được xếp trong Top 10 đặc sản hải sản Việt Nam. Thông thường nhiều người vẫn quen gọi là mực nhảy nhưng tên gọi chính xác là “mực nháy” vì con mực mới bắt lên còn sống, mình trong suốt, làn da lúc nào cũng nhấp nháy những đốm lân tinh. Hai cách gọi trên tuy diễn tả những trạng thái khác nhau của con mực nhưng đều nói lên mức độ tươi ngon của con mực.

“Mực nháy” có nhiều cách chế biến. Nhưng câu mực nhảy và thưởng thức tại chỗ là một loại hình giải trí kết hợp với thưởng thức đặc sản rất thú vị của du khách. Những năm gần đây, kết hợp với sự phát triển du lịch, nghỉ mát, dịch vụ câu mực nhảy bằng thuyền thúng ở Cửa Lò đã trở thành một thú tiêu khiển hấp dẫn. Dịch vụ này đã tạo nên nét độc đáo, đem lại bản sắc riêng cho du lịch Cửa Lò.

Đây là món ăn rất thú vị vào ban đêm khi du khách dạo chơi ở Cửa Lò. Nghêu được luộc lên, lấy nước nấu cháo, ruột nghêu rán lên với các loại gia vị. Khi cháo chín trộn nghêu với cháo rồi đổ vào bát đã bỏ sẵn rau thơm. Mùi thơm của gạo, quyện với mùi vị của nghêu, của rau thơm tạo nên một món ăn thanh nhã. Cháo nghêu cung cấp nhiều chất đạm, tăng thêm sinh lực sau một ngày tham quan mệt mỏi.

Tên gọi món khoai xéo đơn giản chỉ bắt nguồn từ một trong những công đoạn làm nên món ăn, đó là dùng đũa “xéo” cho miếng khoai nát ra.

Khoai sau khi thu hoạch chọn những củ to, có nhiều bột nhất, lựa ngày nắng to, có gió nồm đem khoai ra phơi cho khô trắng, rồi cạo vỏ lụa, rửa sạch, thái lát mỏng, phơi cho tới khi khô giòn. Hạt đậu đen hoặc đỏ, lạc nhân, nếp được đun mềm trước khi đổ mớ khoai khô vào đun sôi. Nồi khoai đun cho tới khi cạn nước, miếng khoai, hạt đậu, hạt lạc mềm nhũn, những hạt nếp chín dẻo, thì cho thêm một chén mật mía (hoặc đường) cho có độ ngọt. Sau đó, công đoạn cuối cùng quan trọng nhất chính là xéo khoai. Để xéo được khoai, phải dùng hai chiếc đũa bếp bản to, đặt chéo nhau rồi liên tục dùng tay ép miếng khoai cho nát. Hoặc nếu không cũng có thể dùng chiếc chày, giã mạnh ngay trong nồi khi khoai còn nóng.

Sau khi xéo khoai xong, lấy đũa dỡ thành từng miếng đặt vào lá chuối rồi gói chặt dành bóc ra ăn như bánh hoặc dùng thìa nén chặt khoai vào bát tô, khi ăn dùng dao xắn thành từng lát mỏng. Ăn khoai xéo thấy rõ vị ngọt của khoai, dẻo thơm của gạo nếp và vị bùi của đậu lạc lại như thấm cả vị mặn mà của miền đất cát pha.

Dê Cầu Đòn thực chất là một thương hiệu thịt dê được nhà hàng Ngân Trình ở Vân Diên, Nam Đàn sáng lập ra. Với hơn 20 năm kinh nghiệm chế biến thịt dê cũng nguồn nguyên liệu tươi ngon, các cách chế biến độc đáo, dê Cầu Đón là một món ăn các bạn nên thử khi tới du lịch Nam Đàn.

Món canh gà Thanh Chương được chế biến với các gia vị dân dã nhất nên cho hương vị đậm đà mà tinh tế khi thưởng thức. Chế biến món xáo (canh) gà Thanh Chương, thoạt tiên lọc phần xương và phần thịt riêng nhau ra; thịt cắt đều chằn chặn, khổ vừa phải vì thịt gà đồi Thanh Chương nấu hao rất ít; xong, đem ướp ngay với lá chanh, muối trắng, nghệ và ớt tươi giã nhỏ. Trong lúc ướp thịt gà, phần xương được băm nhuyễn, vo viên lại. Khi thịt gà ướp ngấm gia vị rồi, bắc lên bếp rim lên khoảng 5 phút, sau đó cho nước lã vào vừa ngập, đun hai nhịp sôi, mặt nồi canh gà nổi sao vàng ngậy là bắt đầu nếm để “gia” đủ mặn, rải viên xương gà lên trên, sau đó mở vung đun đến khi thực sự dậy mùi lá chanh thơm có cái nồng nồng của ớt tươi là được… Nồi canh gà ấy cứ được giữ hâm hẩm nóng, mỗi lần dọn lên một bát, ăn hết lại múc bát khác. Món canh gà Thanh Chương có viên xương băm nhuyễn sẽ giữ được cái sạch sẽ, điềm đạm tinh tế cho khách khi dùng cơm, vì không phải khó khăn trong xé, gặm lóc thịt ra khỏi xương gà; lại giữ được trọn vẹn những gì tinh túy của thực phẩm từ gà đồi miền trung du này vậy.

Khi đã chọn được những mớ cá còm tươi ngon, người dân xứ Nghệ chế biến ra thành nhiều món ngon như: cá còm nấu canh nhút, cá còm rán, cá còm kho tương… nhưng đặc biệt và ngon nhất vẫn là cá còm kho nghệ. Theo người dân Thanh Chương món cá còm được kho với nghệ ngoài giữ được hương vị thơm ngon của cá, nghệ còn giúp khử mùi tanh, tạo màu sắc hấp dẫn và nhất là giúp món ăn trở nên hài hòa giữa hương vị, bổ dưỡng và dược tính.

Ai đã từng đặt chân đến vùng đất Liên Thành sẽ được thưởng thức các món ăn từ cá tràu như: cá tràu nướng, cá tràu kho tộ, cá tràu viên, cá tràu nấu canh chua… vô cùng hấp dẫn. Đây là món ăn đặc trưng của vùng đất Liên Thành nói riêng và huyện lúa Yên Thành nói chung. Theo các cụ già trong làng kể lại: Ngày xưa, cá tràu là món ăn để cúng tổ tiên, thiết đãi khách quý, biếu bạn bè, người thân trong những ngày lễ, tết thì nay cá tràu được chế biến trong các bữa ăn hàng ngày của gia đình và mở rộng quán hàng phục vụ du khách gần xa…

Hàng năm, cứ đến khoảng tháng 3, tháng 4 là đến thời điểm trứng kiến nhiều và to nhất. Đây cũng đang là mùa cao điểm săn trứng kiến làm đặc sản của đồng bào miền Tây xứ Nghệ.

Ngoài món trứng kiến xào với dưa chuột thì trứng kiến còn chế biết được rất nhiều món như: cuốn lá chuối nướng, nấu canh măng chua, lam trong ống nứa… Món trứng kiến không những người dân miền núi mà người dân miền xuôi cũng ưu thích. Khi ăn món này ta có cảm giác trứng kiến vỡ lép bép trong khoang miệng tỏa ra hương thơm dịu, có vị thanh ngọt, béo

Trong các cánh rừng tự nhiên ở các huyện miền núi phía Tây Nghệ An, có một loài cây mà đồng bào người Thái thường gọi là cây chà uốm.

Ngoài công dụng có thể dùng gỗ làm nhà, chất đốt, chà uốm còn cho quả mỗi độ vào mùa thu. Dịp này, quả chà uốm rụng nhiều, vì vậy người dân chỉ việc đi nhặt về. Quả chà uốm có hình tròn, có lớp vỏ cứng bao bọc bên ngoài.

Để có thể sử dụng và chế biến món ăn, sau khi nhặt về, phải đập vỡ lớp vỏ cứng để lấy phần hạt nhân bên trong. Tiếp tục để chế biến thành món ăn phải dùng chày giã thật nhuyễn và cho thêm một ít muối trắng. Với những thao tác đơn giản nhưng loại quả này đã trở thành món ăn kèm với xôi hay còn gọi là Khàu Pằn – món xôi trộn truyền thống, vừa ngon, vừa béo bùi, được đồng bào người Thái ở các huyện miền núi như Con Cuông, Tương Dương và Kỳ Sơn rất thích.

Trong không gian ẩm thực của đồng bào dân tộc Thái ở miền Tây Nghệ An có một món ăn rất được bà con ưa thích và chỉ khách quý mới được tiếp đãi món này. Đó là ‘khuộc lám” được chế biến kỳ công từ những con nòng nọc dưới khe suối.

Những con nòng nọc mang về sau khi làm sạch ruột bằng 1 thanh nứa vót mỏng sẽ được trộn với sả, ớt, mạc khẻn (hay còn gọi là mắc khén,tiêu rừng), mắm muối và gạo tấm giã nhỏ. Khi các công đoạn xong xuôi, cho tất cả vào 2 ống nứa nút kín đem bỏ lên bếp than hồng. Đây là cách chế biến món ăn truyền thống của người Thái khiến cho thức ăn không bị bay hết mùi. Khi ăn phải ăn kèm với xôi mới ngon”.

Món ‘khuộc lám’ vừa có vị ngọt đặc trưng lại vừa có vị ấm của sả, vị cay của mạc khẻn và mùi thơm của các loại gia vị hòa quyện với mùi nứa tươi khi đốt trên than hồng.

Cá mát không phải là giống cá lớn, thường chỉ bằng hai hoặc ba ngón tay người lớn, con “bự” cũng chỉ chừng 0,5 đến 0,8 kg. Hàng năm, tháng 8 âm lịch là vào mùa cá mát. Thịt cá mát rất lành, bổ, thơm ngon, hơi có vị đắng vì khi chế biến không vứt bỏ ruột (ruột cá rất sạch vì chủ yếu ăn thức ăn thực vật), mỡ béo ít xương và ngon nhất là phần đầu (không như các loại cá khác, đầu cá mát rất mềm, giòn). Cá mát có thể kho, rán, nướng… Dù chế biến theo kiểu nào thì thịt cũng rất bùi, rất thơm.

Món này làm từ thịt trâu, thịt lợn, thịt bò, đôi khi là thú rừng, chỉ lấy thịt nạc. Chịn xồm mang thái miếng, kẹp rau thơm rừng chấm muối ớt (hoặc nước mắm ớt), ăn có mùi vị chua, béo và bùi, rất tinh khiết, thanh nhã.

Cũng như người dân Thái ở các tỉnh miền núi phía Bắc, người Thái ở Tây Nghệ An cũng coi các món lam (nướng) là một trong các món không thể thiếu trong đời sống của mình. Cơm lam là một trong những món đặc sản đó. Nếp nương được làm sạch rồi cho vào ống nứa cùng với nước, tất cả được nướng trên than hồng. Điểm đặc biệt của các món lam là hương vị của thức ăn thường không bị mất đi mà được giữ nguyên vẹn như vốn có của nó.

Vào mùa mưa đến cá, cua, nhái, ốc… có ở khắp các con khe, con suối nhưng nhiều nhất vẫn là cá bống, một loại cá nhỏ mà được người dân miền Tây xứ Nghệ rất ưa chuộng, dùng để chế biến thành các món ăn độc đáo.

Sau khi bắt về chọn ra những chú cá bống tươi nhất, tròn trịa nhất, sơ chế bằng cách rửa sạch, để nguyên phần ruột và tẩm ướp một ít gia vị. Cuối cùng được kẹp chặt cùng với nhiều loại cá suối nhỏ khác đưa vào nướng trên than hồng. Ngoài nướng, cá bống suối còn được sử dụng làm nhân cho món mọc, một món ăn thường xuất hiện trên mâm cỗ trong các dịp lễ tết của người Thái nơi đây

Lạp xường là một món ăn truyền thống của đồng báo Thái vùng cao Nghệ An trong những ngày Tết. Nguyên liệu lạp xường là loại thịt lợn ngon được nuôi trong bản. Hiện nay, món lạp xường không chỉ bó hẹp trong cộng đồng người Thái mà còn trở thành một loại thực phẩm người dân vùng cao rất ưa chuộng.

Món này ngoài Bắc thường gọi là bò gác bếp hoặc bò sấy khô. Những người vùng xuôi lên miền Tây Nghệ An công tác, sinh sống lâu lài hoặc lên chơi thăm bạn bè nhận thấy sự độc đáo, hấp dẫn của món bò giàng nên thường đưa về quê làm quà, chiêu đãi người thân. Lâu dần, đặc sản bò giàng vượt ra khỏi phạm vi các huyện vùng cao để xuôi về đồng bằng và thành phố, trở thành món ăn được nhiều người ưa thích.

Với người Thái miền Tây xứ Nghệ, đậu tương là một trong những nguyên liệu phổ biến để chế biến món ăn. Từ quả đậu tương, người dân nơi đây đã chế biến thành nhiều món ăn độc đáo, hấp dẫn, đặc biệt là món chẻo chấm xôi.

Sau khi làm sạch, đậu được cho vào nồi và nấu đến khi nào kiểm tra thấy lớp vỏ ngoài của hạt đậu bong ra thì đưa xuống đãi sạch. Đậu sau khi làm sạch còn phải cho vào chum ngâm 3-4 ngày, lúc nào có mùi lên men thì đưa ra gói vào lá chuối. Đặt cả gói lá chuối nướng trên than hồng, công đoạn cuối cùng là lấy ra cho vào cối giã nguyễn cùng với lá hẹ (đôi khi có thể dùng cá nướng) rồi trộn lẫn những loại gia vị khác như muối, ớt, bột ngọt…Với món chẻo này, có thể chấm xôi hoặc ăn cùng với cơm. Khi ăn có vị bùi của đậu tương, vị thơm của lá hẹ, cay cay của ớt, tiêu.

Tó tàu là món được chế biến từ nhộng ong đất của đồng bào Thái. Tại huyện Con Cuông, Nghệ An món ăn này được người dân ưa chuộng và vùng đất này có lượng lớn ong đất làm tổ.

Từ những con nhộng tằm, dế mèn, châu chấu, cào cào cho đến bọ xít, ve sầu, rắn mối, bọ cạp… với bàn tay khéo léo, sự chế biến tài tình của người miền Tây xứ Nghệ tất cả đã được đưa lên bàn ăn, thậm chí trở thành những món đặc sản.

Các đặc sản Nghệ An mua về làm quà

Được ví như “Kim chi xứ Nghệ”, nhút Thanh Chương là món ăn được làm từ mít non, nó có thể ăn vào mùa đông xào với thịt lăn, hoặc nấu một mình để có vị riêng. Nhút có vị chua chua giòn giòn, ăn rất đưa cơm, chỉ cần chút nước mắm làm nước chấm là đủ. Tuy là thức ăn dân dã và phổ biến của mọi gia đình, nhưng đến nay, nhút đã trở thành đặc sản của xứ Nghệ được nhiều người khắp nơi biết đến.

Tương là một trong những đặc sản truyền thống của người dân Nam Đàn. Nguyên liệu chính để làm tương toàn là những thứ gần gũi, thân thiết với cuộc sống hàng ngày: đậu nành, nếp hoặc ngô, muối và nước. Tương Nam Đàn độc đáo ở chỗ nó là “tương mảnh”, hạt đậu làm tương chỉ xay vỡ thành “mảnh đậu” chứ không “nát như tương Bần”. Chai tương Nam Đàn không có mầu nâu như tương Bần, mà vàng sánh như mật ong. Những mảnh đậu lơ lửng trong nước tương đặc quánh, thơm và ngọt lịm. Tương được dùng để chấm hoặc kho cá, đặc biệt là chấm rau muống hoặc rau lang gừng, kho cá sông, cá đồng với nồi đất Kẻ Trù.

Để chế biến ra mực một nắng, ngư dân phải chọn những con mực tươi ngon, mực to thì chất lượng mực càng giá trị. Trước tiên mực được xẻ ra, rửa sạch, sau đó để ráo nước. Công đoạn tiếp theo là phơi sấy mực bằng 2 cách: phơi dưới nắng hoặc sấy trong than củi.

Để đạt yêu cầu, mực sau khi chế biến sẽ được phơi dưới nắng trong khoảng 1 buổi. Nếu phơi lâu, mực sẽ khô dần và không giữ được độ ngọt, ăn sẽ không dai bùi. Còn thời tiết mát mẻ, người dân phải sấy khô bằng than củi, thường thì khoảng 1 ngày mới đạt yêu cầu.

Mực một nắng có thể chế biến ra nhiều món ngon, hấp dẫn như mực nướng, mực hấp hành, gừng; mực chiên nước mắm, chiên xù, chiên giòn hay mực một nắng xào, sốt me…

Đến du lịch Nghệ An, các bạn có thể tìm mua mực một nắng về để làm quà cho gia đình và bạn bè tại các khu vực biển Cửa Lò, biển Quỳnh…

Mùa con ruốc kéo dài từ tháng Giêng đến tháng Tư (Âm lịch) hàng năm. Vào mùa ruốc, ngư dân nhà nào nhà nấy tấp nập bận rộn huy động từ già trẻ, trai gái đi kéo ruốc. Là món ăn dân dã song làm mắm ruốc cũng đòi hỏi sự cầy kỳ và kỹ lướng không thua kém những món ăn phức tạp khác. Phải chọn con ruốc tươi, tuyệt đối không dùng nước lã để rửa vì ruốc sẽ bị thối rữa..

Mắm ruốc có thể dùng làm nước chấm, ăn kèm với bún hay chế biến nhiều món ăn khác như: nêm canh, cháo ruốc, mắm ruốc rim hay mắm ruốc kho thịt… Tuy vậy mắm ruốc ngon nhất là dùng ăn thô với khế chua và bún, vừa ngon mà lại thấy hết được mùi vị nguyên sơ của mắm. Thêm lát ớt tươi làm món ăn vừa chua vừa cay đem lại cảm giác rất lạ, kích thích mọi giác quan.

Hoặc nếm thử một miếng mắm ruốc, cảm nhận cái ngọt từ thịt ruốc, cái mặn mòi của biển cùng bát cơm trắng nóng thì du khách dù khó tính trong chuyện ăn uống cũng phải tấm tắc khen ngon.

Đây là loại cam chỉ được trồng ở một vùng diện tích rất nhỏ thuộc xã Nghi Diên, Nghi Lộc. Từ trước đến nay cam Xã Đoài vẫn được người dân quen gọi là cam tiến Vua, vì những người có điều kiện như vua chúa mới ăn được loại cam này. Cam khi mới chín có màu vàng rồi chuyển sang sẫm dần nhưng luôn giữ được vẻ tươi tắn, ngoài có lớp the mỏng, chỉ cần khẽ sây xát là đã thoát một mùi thơm đặc biệt. Khi bổ ra sẽ có vị ngọt dịu, thơm, ăn xong trên môi còn dính chút mật như mật ong. Tại các nhà vườn, ngay từ tháng 10, tháng 11 âm lịch thường đã có khách đến đặt mua. Cam chín rộ vào dịp trước Tết.

Giò me là một đặc sản mới nổi gần đây của xứ Nghệ. Giò me (giò bê) được làm từ nguyên liệu chính là thịt me (thịt bê), bì me, trứng gà và các loại gia vị khác. Thịt me mềm, thơm ngon mà không khô, lớp bì me giòn kết hợp với vị đậm đà của gia vị, mùi thơm đặc trưng của giò, của hạt tiêu thật hấp dẫn. Ai từng thưởng thức món ăn đặc sản này sẽ không thể nào quên hương vị đặc trưng của nó. Giò me được dùng trong những ngày giỗ, tết, tiệc tùng, hay dùng làm quà biếu.

Dù có mặt ở rất nhiều địa phương trên cả nước nhưng bánh gai vẫn là một đặc sản nổi tiếng của mảnh đất Nghệ An. Bánh gai Xứ Dừa được sản xuất tại vùng đất miền Tây Anh Sơn. Điều đặc biệt ở món bánh gai này là bánh rất vừa miệng vừa có vị ngon và béo ngậy của dừa trộn lẫn với hạt đậu xanh lại vừa có vị thơm, dẻo của nếp và mùi của lá chuối khô.

Tìm trên Google

các món ăn ngon ở nghệ an

đặc sản nghệ an mua về làm quà

ẩm thực nghệ an

ăn gì ở nghệ an

các quán ăn ngon ở vinh nghệ an

du lịch nghệ an nên ăn gì

Các Món Ăn Ngon Ở Hà Giang (Cập Nhật 08/2020) / 2023

Các món ăn ngon ở Hà Giang

Cùng Phượt – Hà Giang không chỉ được biết đến là một tỉnh miền núi với nhiều phong cảnh hùng vĩ, phong tục tập quán, những lễ hội phong phú, những dãy núi đá cao thật cao mà ở đây chúng ta còn thấy đó là một mảnh đất với nhiều sản vật của tự nhiên rất hấp dẫn và một trong những điểm hấp dẫn du khách đó chính là văn hóa ẩm thực là những món ăn được làm từ nhiều nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên, trở thành món ăn lạ miệng, thú vị và ấn tượng đặc biệt chỉ có ở cao nguyên vùng cao Hà Giang. Cùng điểm qua những món ăn ngon ở Hà Giang mà bạn khó lòng có thể bỏ qua khi đã tới với mảnh đất này.

Ăn gì khi du lịch Hà Giang

Nơi miền đá lạnh Hà Giang, người ta phải ăn món gì thật nóng, thật cay để chống chọi không khí u ám tỏa ra từ đá núi. Nhưng bánh cuốn trứng, đặc sản của miền địa đầu tổ quốc này, lại là “món lạnh”, dùng cùng chén nước lèo ninh xương nóng hổi, ngọt lừ.

Bánh cuốn trứng Hà Giang ngon là do sự kết hợp của bột bánh dẻo vừa đủ, nhân thịt đậm đà, đặc biệt là bát nước chấm có vị riêng biệt.

Đây là món “vừa ăn vừa đợi”, người bán khi có khách gọi mới tráng bánh, đập thêm trứng lên mặt lớp bột rồi dùng vỏ bánh gói lại. Trứng không chín hẳn mà chín lòng đào, có vị béo ngậy, nhanh tay chấm vào bát nước chấm được ninh từ xương, khác với nước mắm thường thấy. Thực khách cũng có thể lựa chọn thêm miếng giò trắng ăn kèm. Món bánh cuốn trứng chủ yếu được bán buổi sáng ở Tp Hà Giang, phố cổ Đồng Văn và trong một số chợ.

Đây là một món ăn khá lạ, cũng là một nét ẩm thực độc đáo của Hà Giang. Trước khi được chết biến, da trâu phải được hơ trên bếp lửa cho sạch phần lông dày và cứng, tiếp đến phần vỏ ngoài cứng và đen sẽ được cạo sạch, chỉ để lại phần da vàng bên trong. Sau công đoạn này, da được luộc trong nước sôi cho sạch hết bẩn, hết lông và tạo độ mềm. Quan trọng hơn, da trâu phải được thái sao cho mỏng nhất để sau đó tạo độ giòn cho miếng da. Cuối cùng, da trâu sẽ được trôn đều trong các loại gia vị riêng (không thể thiếu mắc khén nhé) cùng các loại rau thơm để tạo thành món nộm da trâu giòn ngon, béo ngậy.

Cộng đồng các dân tộc vùng núi phía Bắc sở hữu một nền văn hóa ẩm thực vô cùng đa dạng và độc đáo. Trong đó, xôi ngũ sắc hội tụ được những giá trị truyền thống, mang ý nghĩa về quan niệm vũ trụ, triết lý âm dương và ý nghĩa nhân sinh cao đẹp.

Gọi là xôi ngũ sắc vì khác với các loại xôi thông thường, xôi ngũ sắc được tạo nên bởi năm loại xôi với năm màu khác nhau. Đó là màu đỏ, màu vàng, màu xanh, màu tím và màu trắng. Bạn có thể dễ dàng tìm thấy xôi ngũ sắc tại các phiên chợ ở Hà Giang.

Cách chế biến xôi ngũ sắc của các vùng cơ bản giống nhau. Tuy nhiên, tùy điều kiện từng vùng, họ có thể pha trộn hoặc dùng các màu khác nhau ngoài những màu cơ bản trên để tạo nên xôi ngũ sắc. Nguyên liệu làm xôi ngũ sắc gồm: Gạo nếp thơm dẻo, hạt đều không lẫn tẻ, trộn với các loại lá cây rừng để nhuộm màu. Màu đỏ dùng quả gấc, lá cơm đỏ. Màu xanh dùng lá gừng, lá cơm xôi xanh, hoặc vỏ bưởi, vỏ măng đắng, đốt lấy tro ngâm với nước có pha chút vôi. Màu vàng dùng củ nghệ già giã lấy nước. Màu tím dùng lá cơm đen, hoặc lá cây sau… Trước khi nhuộm màu xôi, gạo nếp vo sạch đem ngâm trong nước lã từ 6 – 8 giờ để hạt gạo có độ nở vừa phải. Chia gạo ra thành 5 phần, mỗi phần tương ứng với một màu. Sau khi nhuộm màu, đến công đoạn cuối cùng là đồ xôi. Khâu này đòi hỏi phải thật khéo léo mới có được món xôi như ý. Gạo ngâm màu nào dễ phai nhất được cho vào chõ đầu tiên, kế đến là các màu còn lại, màu trắng trên cùng. Phải đồ mỗi màu một chõ riêng. Có nơi bày thành bông hoa 5 cánh, mỗi cánh một màu, có nơi bày theo hình ruộng bậc thang, mỗi bậc một màu, có nơi dùng khuôn gỗ đóng thành tháp, nhiều tầng…

Mùi thơm của thảo quả, hạt dổi và củ sả, quyện với vị béo ngậy của thịt làm ấm lại không gian giữa tiết trời se lạnh. Đàn ông Mông đi chợ Đồng Văn đều mong được ăn một bát thắng cố, uống vài bát rượu với bạn bè. Người ta quan niệm ai có nhiều bạn thì người ấy được mời nhiều rượu. Người nào say khi về chợ là người tốt phúc bởi có nhiều bạn.

Chợ huyện Đồng Văn giờ đã được di chuyển sang vị trí khách, rộng hơn, kiên cố hóa, trông chẳng khác gì chợ dưới xuôi nhưng nhà cửa, mái che chẳng thể thay thế được những chiếc ô của bà con dân tộc. Vào giữa chợ, những gian hàng thắng cố được đặt sau khu bán đồ thực phẩm.Thịt lợn, thịt bò trong chợ được xiên cả nửa con treo lủng lẳng trên những chiếc móc to. Hàng rượu ngay sát điểm bán thắng cố. Rượu được đựng trong những chiếc can nhựa to hay vò sành mà những con ngựa đã miệt mài cõng xuống núi từ sớm tinh mơ hay từ đêm hôm trước. Một thế giới rượu thật phong phú, chan hòa mùi vị của men lá nồng nàn.

Đồng bào Mông thường mang theo mèn mén, đến chợ mua thêm bát rượu và thắng cố là có thể mời bạn bè vui chung. Ăn thắng cố phải ngồi xổm, đặt thức ăn lên một tấm gỗ dài và ăn bằng muôi (muỗng) gỗ. Bên cạnh bao giờ cũng có bát muối cùng với ớt tươi dầm thật cay. Một muôi thắng cố nóng với chút muối ớt sẽ rất đậm đà. Ăn thắng cố nhất thiết phải có bạn để hỏi thăm chuyện gia đình, chúc nhau sức khỏe và cười vang chợ. Uống rượu đến độ ngà ngà sẽ hát và thổi khèn. Con trai con gái đều có thể say rượu bên bàn thắng cố.

Ở Hà Giang có nhiều món ăn độc đáo khiến du khách đã một lần tới đó đều không thể nào quên được. Cháo đắng, hay cháo ấu tẩu là một loại ẩm thực như thế.

Đêm mùa đông lạnh lạnh, lang thang ở thị xã Hà Giang, kiếm một góc quán và gọi món cháo ấu tẩu. Đủ các cung bậc mùi vị trong một bát cháo nhỏ: thơm lôi cuốn của gạo nếp cái hoa vàng trộn với gạo tẻ thơm được trồng trên nương nấu nhuyễn, vị bùi của củ ấu được ninh kỹ và nước hầm chân giò béo ngậy, mùi lá thơm, lá gia vị. Bát cháo ấu tẩu nhìn rất hấp dẫn bởi sự kết hợp hài hòa giữa gạo, thịt băm, nước xương, rau thơm… Nấu được bát cháo ấu tẩu thực không đơn giản. Củ ấu sau khi ngâm kỹ trong nước vo gạo đặc một đêm rồi đem hầm trong vòng 4 tiếng. Gạo nếp cái hoa vàng được trộn với gạo tẻ thơm nấu nhuyễn trong nước hầm xương chân giò và bột củ ấu. Thêm chút thịt nạc băm nhỏ, chút gia vị phụ thêm nữa. Cháo khi ăn có vị đắng nên nhiều người gọi là cháo đắng.

Rất nhiều người khi đến với Hà Giang, nếu đã được thưởng thức một lần rồi sẽ tìm đến để ăn lại. Cháo ấu tẩu không chỉ là món ăn đơn thuần, mà còn là vị thuốc bổ giải cảm. Cháo đắng ở Hà Giang mùa nào cũng có, nhưng chỉ bán vào ban đêm. Mùa đông lạnh giá ở miền núi được ngồi trong không gian hàng quán ấm áp bếp hồng và thưởng thức món cháo ấu tẩu, cháo đắng Hà Giang cũng là một sự thích thú trong lối ăn chơi cho những người yêu thích khám phá điều mới lạ.

Sau vụ thu hoạch ngô được phân loại, phơi khô cả vỏ đưa lên gác xép, xếp thành hàng, để dùng dần. Ngô được tẽ ra, quạt sạch rồi say nhỏ bằng cối đá. Xay ngô đòi hỏi sự công phu và tốn thời gian. Khi xay phải có hai người, một người kéo tràng, một người đứng bỏ hạt. Ngô xay ra đảm bảo nhỏ hơn hạt tấm, đều để dễ đồ. Khi đồ cho bột ngô vào chõ, rắc đều một chút nước đậy kín, đặt lên chảo nước rồi đun chờ có mùi thơm toả ra là cơm chín. Cẩn thận hơn, người ta làm đồ hai lượt. Lượt thứ nhất chưa chín hẳn. Đổ ra xảo, đánh tơi, chờ nguội bớt, rồi rẩy chút nước, cho lại vào chõ đồ lượt thứ hai. Cơm bột ngô háp người ta quen gọi là mèn mén.

Vào cuối mùa hoa tam giác mạch, người dân địa phương sẽ thu hoạch hạt cây rồi bán lại cho các hợp tác xã với giá khá cao. Điều này giúp người dân có thêm thu nhập. Loại hạt này rất nhỏ, chỉ bằng một nửa hạt đỗ đen. Vì được trồng trong tự nhiên nên tam giác mạch nơi đây không bị tác động bởi hóa chất độc hại.

Để làm được chiếc bánh thơm ngon như vậy, người dân phải thực hiện qua nhiều công đoạn. Trước tiên, hạt tam giác mạch phải được phơi khô đủ độ rồi đem đi xay bằng tay. Quá trình xay cũng cần sự khéo léo để ra mẻ bột thật mịn, đều tránh bị lợn cợn sau khi chế biến. Người ta nhào bột đã xay với nước rồi đóng thành khuôn, đem đi nướng. Giá thành của sản phẩm sau khi ra lò nóng hổi là 10.000-15.000 đồng một chiếc bánh. Dù không cao giá như nhiều món hàng ở những nơi khác nhưng bánh tam giác mạch đang góp phần lớn vào sự phát triển ẩm thực, du lịch và kinh tế của vùng cao nguyên đá.

Lên Đồng Văn, giữa thị trấn hun hút gió mùa đông mà được ngồi bên bếp lửa ăn bát thắng dền, thật không có gì ấm áp và thú vị bằng. Thắng dền trông giống bánh trôi tàu ở Hà Nội, giống bánh cống phù ở Lạng Sơn, được làm từ bột gạo nếp, có thể làm chay hoặc bọc nhân đậu đỗ. Mỗi viên bột được nặn to hơn đầu ngón tay cái chút xíu, cho vào nồi nước dùng luộc, đến khi nổi lên chủ quán sẽ dùng muôi vớt ra. Thắng dền thơm ngon hay không là ở bát nước dùng, được pha bởi hỗn hợp ngọt ngào của đường, béo ngậy của nước cốt dừa và cay cay của gừng đun nóng. Có thể rắc thêm vừng hoặc lạc cho món ăn thêm bùi. Khách ăn thường bỏ một hai viên thắng dền vào ngậm trong miệng một lúc, ngấm cái vị ngọt béo của nước đường, vị cay se se của gừng tươi, vị bùi ngậy của vừng lạc.

Lâu nay, rêu đá chỉ được coi là 1 loại thủy sinh không nhiều tác dụng. Nhưng đối với người dân tộc Tày ở xã Xuân Giang huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang, thì rêu đá được coi là đặc sản trong ẩm thực của họ.

Các món ăn được chế biến từ rêu đá còn được gọi là quẹ. Đây là một món ăn vừa ngon, vừa bổ, lại có hương vị rất riêng.Theo người dân địa phương, khi đi tìm rêu, họ thường chọn những bãi rêu lớn, bởi ở đó rêu vừa nhiều, vừa ngon. Rêu tươi đem về được vò đập thật kỹ cho sạch nhớt phù sa, sau đó có thể chế biến thành nhiều món.

Rêu suối tuy nhiều, nhưng những loại rêu ngon thì ít. Hơn nữa, rêu ăn được cũng theo mùa, bởi vậy đối với bà con nơi đây, rêu cũng là một món ăn quý… Rêu có thể được chế biến thành nhiều món như rêu rán, rêu khô nhưng độc đáo nhất vẫn là món trộn với các loại gia vị rồi đem nướng.

Người Tày thường có câu: “Quẹ chí áp, táp chí hơ”, có nghĩa là nướng quẹ phải đặt áp vào than, nước ngọt và thơm của nó chưa kịp rớt xuống thì quẹ đã chín, khi nướng, không phải xoay nhiều lần mà nướng chín một bên, sau đó nướng tiếp bên còn lại. Khi dùng hai ngón tay bấm thấy mềm là quẹ đã chín. Vì rêu ăn được theo mùa nên ngoài việc chế biến rêu tươi, người ta còn phơi khô rêu, cất lên gác bếp để làm món ăn dự trữ. Chỉ khách quý mới được đãi món rêu khô trên gác bếp.

Hà Giang là một vùng phì nhiêu với những loại gạo nếp thơm ngon nổi tiếng thì cơm lam Bắc Mê đang dần trở thành một đặc sản đặc trưng của đồng bào dân tộc Tày nơi đây.

Kỹ thuật chế biến cơm lam thật đơn giản. Nguyên liệu là gạo nếp được đãi ngâm kỹ, nước nấu thường là những mạch nước ngầm trong cùng cho vào cho ống tre rồi bịt lá chuối . . Người ta dùng loại cây non, thân ống, họ tre , mỗi dóng tre chặt bỏ một đầu ống, đầu ống còn lại tác dụng như cái đáy nồi. Gạo nếp vo sạch, rắc thêm chút muối, trộn đều, cho gạo vào ống tre, lượng nước đổ xâm xấp so với mặt gạo. Miệng ống được nút bằng lá dong tươi hoặc lá chuối khô và nướng lên Ống tre có gạo ấy được hơ trên ngọn lửa hoặc trên đống than hồng, vừa hơ vừa xoay tròn từ từ cho nhiệt tác dụng đều lên xung quanh vỏ ống. Chừng trên dưới một tiếng sau (tuỳ theo ống cơm to hay bé), mùi cơm nếp toả ra thơm lừng, ấy là dấu hiệu cơm đã chín.

Đặc sản Hà Giang mua về làm quà

Trong mỗi phiên chợ, ngoài những thứ nông sản phục vụ đời sống, một “đặc sản” không thể thiếu được thường xuyên trao đổi buôn bán và dùng ngay tại chỗ là rượu ngô.

Rượu được nấu từ thứ ngô bản địa của Cao nguyên đá cùng với thứ men lá truyền thống nên khi uống vào có vị ngọt, thơm của ngô và không gây mệt mỏi đau đầu. Rượu ngô có mặt trong tất cả các phiên chợ Hà Giang mà bạn đi qua, đây cũng là một thức uống không thể thiếu khi thưởng thức thắng cố.

Từ lâu, sản phẩm mật ong Bạc hà đã được người tiêu dùng biết đến với chất lượng tốt, ong nuôi trong môi trường tự nhiên, nguồn mật được lấy từ hoa Bạc hà dại chỉ có trên Cao nguyên đá Đồng Văn.

Mật ong bạc hà được người dân ở đây sản xuất theo phương pháp truyền thống, chủ yếu lấy từ hoa bạc hà và một số loài hoa của các loại thảo mộc hoang dại. Mật ong bạc hà có màu xanh nhạt, pha lẫn chút màu vàng, khi thưởng thức có mùi thơm đặc trưng riêng, vị ngọt dịu mát và sánh đặc.

Ba kích dùng để ngâm rượu hoặc làm thuốc là một loại dây leo thuộc họ Cà phê và có tên khoa học là Morinda officinalis stow. Ba kích mọc hoang khá nhiều ở những khu rừng thứ sinh ở các vùng trung du và vùng núi Bắc Bộ, dưới tán những kiểu rừng lá rộng nhiệt đới ẩm. Những địa phương có nhiều loại cây này ở nước ta có thể kể đến như Hà Giang, Lạng Sơn, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hòa Bình…

Hồng không hạt Quản Bạ đã có từ rất lâu đời, hiện nay vẫn còn có những cây hồng khoảng trên 300 năm tuổi tại xã Nghĩa Thuận. Sự thơm ngon nức tiếng của loại quả này được tạo thành nhờ các yếu tố tự nhiên của khu vực địa lý Quản Bạ. Cụ thể, Quản Bạ có độ cao trung bình trên 1.000 m so với mực nước biển, địa hình khá bằng phẳng, có nơi có độ dốc dưới 20 độ, tầng đất dày, ít bị xói mòn. Khí hậu ở đây mát mẻ quanh năm nên hồng không hạt cho chất lượng tốt, năng suất cao và ổn định.

Khác với giống hồng không hạt ở các địa phương khác, hồng không hạt Quản Bạ là giống bản địa, đã được đồng bào các dân tộc thiểu số (Mông, Dao, Tày, Bố Y…) trồng từ lâu đời, đồng thời nó được bảo tồn và phát triển. Hồng không hạt Quản Bạ có một số tính chất đặc thù so với các sản phẩm cùng loại như: Thịt quả giòn, ngọt, thơm, nhiều bột mịn; quả to, vỏ quả cứng, thịt chắc rất dễ bảo quản và vận chuyển.

Đã từ lâu, cam sành trở thành một đặc sản nức tiếng mỗi khi người đi xa về gần nhắc đến đất Bắc Quang, thứ đến mới là chè. Có được điều đó là bởi vùng đất này có những điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng không giống với bất cứ vùng đất nào để tạo nên những trái cam mang hương vị riêng biệt, vô cùng ngọt ngào và hấp dẫn của miền núi rừng phía nam của tỉnh Hà Giang. Ngoài màu sắc vàng sẫm, cuống nhỏ, cam sành Bắc Quang còn có mùi thơm rất đặc trưng, quả rắn, khi ăn rất thơm và ngọt.

Cây chè shan tuyết tại Phìn Hồ sống cheo leo ở độ cao hàng nghìn mét trên dãy núi Pìn Hò có khí hậu quanh năm mát mẻ. Fìn Hồ trà được chế biến từ búp chè 1 tôm và 2 lá non hái ở những cây chè Shan tuyết cổ thụ trên 200 tuổi tại vùng núi cao thôn Fìn Hồ – xã Thông Nguyên, Hoàng Su Phì. Quá trình canh tác và chế biến không sử dụng chất hóa học. Hương vị chè tại đây có vị thơm ngon, tinh khiết đặc biệt do thiên nhiên ban tặng bởi khí hậu thổ nhưỡng ở độ cao trên 1300m.

Tìm trên google :

các món ăn ngon ở Hà Giang

đặc sản Hà Giang làm quà

ăn gì khi du lịch Hà Giang

các quán ăn ngon ở Hà Giang

đến Hà Giang nên ăn gì

địa điểm ăn uống Hà Giang

ẩm thực Hà Giang

món ăn vặt Hà Giang

các món ăn vỉa hè ở Hà Giang

mua gì ở Hà Giang

Hà Giang có gì ngon

Các Món Ăn Ngon Ở Lai Châu (Cập Nhật 08/2020) / 2023

Các món ăn ngon ở Lai Châu

Cùng Phượt – Lai Châu vùng đất nơi địa đầu tổ quốc với 20 dân tộc anh em cùng sinh sống như: Thái, Tày, Nùng, Lự, Mảng, Kháng, Kinh… Chính điều này đã mang lại cho Lai Châu sự phong phú đa dạng về văn hóa, bởi vậy đến với vùng đất này, bạn không chỉ được đắm chìm trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, mà còn được hòa mình vào các hoạt động văn hóa đa dạng đặc sắc của các dân tộc và thưởng thức các món ăn ở Lai Châu, đây là một trong những nét ẩm thực đặc trưng của Lai Châu nói riêng và Tây Bắc nói chung mà khó có thể tìm thấy ở những vùng đất khác.

Cái tên lợn “cắp nách” (một số nơi gọi là lợn lửng) là loại lợn đặc sản chỉ có ở vùng cao. Mỗi con chừng 10-15kg, con nào to cũng chỉ khoảng 20kg. Ăn thịt lợn “cắp nách” chẳng khác nào ăn thịt thú rừng mà không phạm pháp, bởi vì loài lợn này được thả vào trong rừng từ khi mới đẻ, tự kiếm ăn để sống.

Lợn “cắp nách” được ra đời từ thói quen chăn nuôi lạc hậu của bà con các dân tộc vùng cao như: Dao, Thái, Mông… Đây thực chất là giống lợn đặc trưng truyền thống chuyên thả rông chẳng phải nuôi dưỡng của đồng bào. Muốn có một đàn lợn “cắp nách” thì chỉ cần mua một đôi, gồm một con đực và một con cái, sau đó thả chúng vào khu rừng gần nhà mình. Đôi lợn đó sẽ luôn đi bên nhau, làm ổ trong rừng, tự kiếm ăn. Đến mùa sinh sản thì chúng giao phối và đẻ ra cả đàn lợn hàng chục con chỉ to hơn ngón chân cái.

Loài lợn này có sức chịu đựng rất giỏi, chúng tìm củ, rễ cây rừng nhai lá cây là có thể sống được. Lợn mới đẻ có thể chạy nhảy và kiếm ăn ngay được, chúng chỉ theo bố mẹ vài ngày rồi tự tách ra. Cả lũ lợn con đi kiếm ăn thành đàn đến khi nào trưởng thành, có thể sinh sản mới tự tách ra. Điều đặc biệt là loài lợn này tuy tự kiếm sống ở trong rừng, song chúng không bao giờ đi xa, chỉ quanh quẩn ở một khoảng cách nhất định. Có hộ thì tạo thói quen cho chúng tự về ổ do ông bà chủ làm sẵn ngay đằng sau nhà hay dưới gầm sàn. Còn những đàn lợn “ở ẩn” trong rừng thì chúng đã đánh dấu lãnh địa của mình. Muốn xem đàn lợn đã lớn chưa, người ta chỉ việc vào rừng tìm chúng hoặc ban đêm lần vào ổ của chúng để xem. Ổ được làm bằng những cành cây, lá cây khô. Muốn bắt chúng cũng rất dễ, người ta có những tiếng kêu đặc trưng để dụ chúng đến rồi bắt.

Chính vì không được nuôi dưỡng nên lợn lửng thuộc loại siêu chậm lớn, mỗi năm chúng chỉ tăng tối đa là 10kg, sau đó hầu như không tăng nữa. Chính vì ăn cỏ cây, lại chậm lớn nên thịt chúng rất thơm ngon, hầu như không có mỡ, miếng nào có một tý mỡ thì cũng không ngấy.

Lá Chua ở rừng sẵn có quanh năm, mang về giã nhỏ, thêm ớt, hạt Dổi. Trộn đều với thịt lợn, ăn tuyệt ngon mà không bị ngán. Đây là món ngon của anh chị em đồng bào Thái Trắng ở Lai Châu.

Món cá nướng của người Thái

Từ xa xưa người Thái thường định cư ở các thung lũng, ven con sông, con suối nên cá và các loại thủy sản khác luôn là nguồn thực phẩm quan trọng không thể thiếu với đời sống hàng ngày. Chính vì vậy tục ngữ Thái đã có câu: “Cáy măn mọk má ha, Báu to pa pỉnh tộp ma sú” nghĩa là: “Gà tơ tần đem đến, không bằng cá Pỉnh Tộp đem cho”. Bởi đối với đồng bào dân tộc Thái thì cá không chỉ đơn thuần mang lại giá trị dinh dưỡng mà còn là biểu tượng của sự no đủ, sung túc và hạnh phúc.

Để làm được món cá suối nướng ngon thơm, người ta phải chọn loại cá suối tươi, béo nếu là cá chép thì càng tốt. Cá được cạo sạch vảy, không mổ đường bụng mà phải mổ sống lưng để khi nướng, úp cá lên sẽ mềm, dễ gắp. Sau khi lấy mật thì rửa sạch rồi ướp, nhồi gia vị. Cá suối thường chỉ ăn rêu, lá cây và các động vật giáp xác. Nên chúng rất sạch, cá mổ ra hầu như không có mùi tanh. Gia vị để ướp cá gồm mắc khén, rau thơm rừng, hạt sen, lá húng, củ sả, ớt, xúp, mì chính… Sau khi làm sạch vẩy, cá được mổ từ lưng để vứt bỏ mật và ruột. Mổ kiểu này khó hơn, không cẩn thận sẽ bị đứt tay nhưng khi gập cá lại để nướng, cá sẽ dai hơn và không bị vỡ, tạo thành hình đẹp.

Sau khi mổ phanh lấy dao khứa chéo phần thân ngoài cá và tẩm các gia vị chừng 4 phút rồi gập ngang cá lại rau thơm và gia vị tiếp tục nhồi vào giữa, dùng thanh tre tươi kẹp chặt và hơ nướng trên than tro củi nóng chừng 15 phút thì cá chín. Nướng cá cũng cần có kỹ thuật, không được vội vàng mà dí sát xuống than làm cháy lớp ngoài mà lớp trong chưa kịp chín thơm, phải kiên trì hơ cho chín dần, chín đều. Khi gỡ cá ra khỏi xiên chỉ cần dung sợi chỉ vuốt dọc mình cá theo chiều gắp thì miếng thịt cá còn nguyên mà không bị vỡ.

Thưởng thức miếng cá nướng vàng rộm, thơm lừng với cơm nếp xôi dẻo ta mới thấy hết cái vị ngọt béo của cá, vị cay của quả ớt đầu sàn nhà mẹ, qủa Mắc khén ven bản, màu xanh của hành, của rau thơm lẫn màu đỏ của ớt, màu vàng của cá nướng – tất cả màu sắc của bức tranh thiên nhiên ấy đã đi vào bữa ăn cụ thể của đồng bào Thái giản dị mà ngẫu nhiên.

Cá bống nơi đây thường được bắt ở các con sông, con suối, con cá bống nào to lắm mới bằng ngón tay trỏ của người lớn. Để có được món cá bống vùi gio ngon và đẹp mắt phải trải qua khá nhiều bước tiến hành kì công, đòi hỏi sự khéo léo và kinh nghiệm của người chế biến. Điều đó được thể hiện khi chọn nguyên liệu để chế biến như: Cá bống phải chọn con đều nhau, các loại gia vị sả, ớt, gừng, hạt tiêu, mắc khén … lá húng, và lá hom húng phải được băm nhỏ, lá dong phải là lá bánh tẻ, khổ to vừa không bị rách và rưả sạch để khô. Cá bống được sơ chế sạch sẽ và tẩm ướp với các gia vị đã được chuẩn bị sẵn. Sau khi ướp được chừng 15- 30 phút, chúng ta sẽ khéo léo gói gọn trong lá dong và được vùi vào trong tro nóng, khoảng 30 phút lại lật lại 1 lần, cứ như thế vài lần cá sẽ chín.

Khi thưởng thức món ăn ta sẽ nhận thấy mùi thơm đặc biệt của các gia vị núi rừng được pha trộn 1 cách hoàn hảo, vị ngậy mà không béo cuả cá, và mùi thơm nhè nhẹ của lá dong nướng. Món này vừa có thể là món nhắm rượu, vừa có thể là món ăn cùng cơm nóng hoặc xôi.

Xôi tím được đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Thái, Dáy… làm với những bí quyết riêng. Từ những hạt gạo nếp nương thơm dẻo, hạt to đều không lẫn tẻ, hương thơm ngọt, đem vo sạch rồi ngâm trong nước lã từ 6 – 8 giờ. Màu tím đặc trưng và hấp dẫn của xôi được nhuộm bằng loại cây có tên là Khẩu cắm (loại cây này chỉ có ở miền núi). Cây Khẩu cắm bẻ cả cành, lá rửa sạch, đem luộc. Luộc lá sôi chừng năm phút, khi thấy nước chuyển sang màu tím, sánh là được. Để nước lá nguội bớt rồi chút gạo nếp vào ngâm thêm 2 đến 3 giờ. Đồ xôi tím phải đồ bằng chõ gỗ được đục từ thân cây sung, lửa củi mới có được mùi vị thơm ngon hơn cả. Đồ đến khi hạt gạo chín nục, xới từng lớp xôi thấy màu tím tươi, bóng, hạt xôi dẻo mà không dính, có mùi thơm ngào ngạt là đã hoàn thành quy trình nấu xôi. Ngoài hương vị thơm ngon, ngậy mà không ngán, xôi tím còn hấp dẫn bởi màu sắc và chất của loại lá cây rừng. Theo kinh nghiệm của đồng bào dân tộc ở Lai Châu, cây Khẩu cắm dùng đồ xôi còn có tác dụng chữa bệnh đường ruột và bồi bổ sức khỏe rất tốt.

Nếu có dịp đến với các phiên chợ như , chợ Sìn Hồ, hay chợ San Thàng… du khách sẽ ấn tượng với hình ảnh những cô gái dân tộc gùi những gùi xôi xuống chợ bán, quanh mình tỏa ra mùi thơm dẻo của gạo nếp nương và đặc biệt là màu tím đặc trưng vô cùng hấp dẫn. Thư thái ngồi bên bếp lửa thưởng thức xôi tím với cá nướng Pa pỉnh tộp hay miếng chả quế, thực khách sẽ cảm nhận được cả dư vị của núi rừng

Thịt lợn hun khói là một món ăn truyền thống của một số dân tộc vùng cao nói chung và người Pu Nả nói riêng. Thịt lợn hun khói không phải lúc nào cũng làm được, mùa nào cũng làm được mà làm thịt hun khói có mùa và phải làm đúng mùa, vì nếu làm trái mùa thịt sẽ bị ôi. Mùa làm thịt hun khói tốt nhất ngon nhất là mùa đông.

Khi mổ xong con lợn, người ta phanh con lợn ra, rồi lấy bộ lòng dội nước rửa sạch con lợn, không để một tý tiết còn dính vào thịt. Sau đó lấy dao dọc thịt lợn theo xương sườn thành miếng dài. Cứ mỗi xương sườn một miếng. Các miếng thịt dọc ra trước khi ướp không được dính nước lã và ướp ngay khi thịt còn nóng. Khi ướp xong cho vào chảo to hoặc chiếc thùng gỗ để ướp từ 5 đến 7 ngày mới bỏ ra để treo lên gác bếp sấy. Sấy đến khi nào thấy miếng thịt thật khô và mỡ bắt đầu chảy xuống là được. Các hương vị và gia vị để ướp thịt gồm có: Muối biển rang khô; Ớt quả khô; Thảo quả khô, nướng; Hạt tiêu rừng “Lậc cheo”; Quả mắc khén phơi khô, tất cả đều phải giã nhỏ.

Nếu ai đã có dịp ghé qua các bản làng người Thái ở Lai Châu sẽ không chỉ biết đến một truyền thuyết đầy cảm động về Hoa Ban – Măng Đắng mà còn được thưởng thức một món ăn có chứa đủ vị: đắng, chua, cay, mặn, ngọt, bùi của món Măng nộm hoa ban.

Măng có rất nhiều loại, loại nào cũng dùng làm nộm được nhưng ngon nhất thì có măng nứa và măng đắng. Măng đắng cần sắt nhỏ ngâm nước muối 30 phút sau đó luộc 2 lần rồi vớt ra để ráo, còn nếu là măng nứa đem luộc rồi tước nhỏ. Hoa ban cần chọn những bông tươi, ngắt lấy những cánh hoa dày để dùng. Tiếp theo cần chọn được một con cá suối tươi ngon, mình dày, đem nướng trên than củi, gỡ lấy thịt. Sau đó pha hỗn hợp nước trộn chanh, tỏi, ớt, rau húng và rau mùi đã thái nhỏ. Cuối cùng trộn nhẹ nhàng đều tay măng, hoa ban, cá và nước trộn. Tất cả hoà quyện tạo nên một hương vị đặc trưng của núi rừng, gắp từng miếng nộm du khách cảm nhận được vị đậm đà, thơm nồng của cá nướng, vị bùi bùi, ngầy ngậy của hoa ban, và vị đăng đắng của măng tươi.

Nộm rau dớn là món ăn đặc trưng của người Thái ở Lai Châu nói riêng và đồng bào Tây Bắc nói chung. Rau dớn người Thái gọi là “pắc cút”, loại cây thuộc họ quyết, giống như cây dương xỉ, thân to, tán lá rộng, mặt lá có màu xanh nhẵn. Loại cây này chỉ mọc ở bờ suối, khe suối, nơi có độ ẩm cao.

Để làm được món nộm rau dớn vừa ngon, vừa mang hương vị đặc trưng của dân tộc Thái, người ta thường chỉ hái những ngọn rau dớn cong non, là bánh tẻ, sau đó rửa sạch, phơi nắng cho tái. Tiếp đó cho rau dớn vào chõ xôi bằng gỗ để đồ, sau khoảng thời gian 20 phút. Để rau chín và giữ được màu xanh. Ở công đoạn này, nhất thiết rau dớn phải đồ chứ không nên luộc để giữ vị bùi bùi, ngọt ngọt của món nộm. Khi rau đã đồ chín, bỏ rau vào bát to, cho rau thơm, ớt, gừng, tỏi, nước chanh tươi, mì chính và muối trắng trộn đều. Để khoảng 5 phút cho ngấm gia vị, sau đó cho lạc rang giã nhỏ vào là có thể ăn ngay được. Món nộm rau dớn khi ăn sẽ cảm nhận được mùi thơm đặc trưng của các loại rau, vị bùi của rau dớn, vị chua ngọt xen lẫn một chút vị cay của ớt.

Rêu đá được chế biến thành nhiều món ăn truyền thống của đồng bào Thái Tây Bắc và nó trở nên đặc biệt hơn trong mâm rượu hứa hôn của các đôi trai gái. Để có được những món rêu ngon đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn, trước tiên cần vớt rêu cho vào rổ, giặt qua nước sạch nhằm loại bỏ cát và các chất bẩn, bỏ lên một tảng đá to, hoặc thớt rồi dùng một khúc gỗ to để đập, cứ làm như thế vài lần thì rêu mới sạch được như ý. Rêu đá khi đã qua sơ chế sẽ có màu xanh đậm, sờ vào mềm và mát. Qua những bước sơ chế cơ bản, rêu được chế biến thành nhiều món khác nhau như canh rêu đá, rêu nướng và rêu xào lá tỏi.

Rêu nộm thường lấy rêu non, cho vào chõ đồ xôi, đồ vừa chín tới, trộn cùng bột canh, mì chính và các gia vị, gừng, mùi, mắc khén, nếu thích ăn cay cho thêm quả ớt nướng giã nhỏ.

Để làm món rêu nướng, sau khi sơ chế và vắt hết nước, đem tẩm với các gia vị như sả, gừng, bột ớt, hạt dổi, quả muối, hạt sẻn…rồi được gói vào lá dong và vùi trong tro nóng, bên trên phủ một lớp than hồng. Khi vùi than cần phủ đều để giữ sao cho rêu chín đều mà không bị cháy. Đợi đến khi lớp lá bên ngoài chuyển thành màu đen thì người ta mới lấy ra rồi bóc từng lớp lá. Mùi thơm của gia vị cùng mùi nồng nồng của rêu đá tạo nên một hương vị rất riêng, trông giống như tảo biển, mềm, ngậy ăn với cơm nóng thì ngon tuyệt. Theo kinh nghiệm dân gian, ăn rêu đá vùi than thường xuyên giúp cơ thể lưu thông khí huyết, giải độc, giải nhiệt, hạ huyết áp và nhiều chứng bệnh mãn tính khác.

Nếu như trước đây, trứng kiến được người dân sử dụng như một thực phẩm để tăng thêm dưỡng chất, chống đói và thiếu thức ăn thì giờ đây những kinh nghiệm dân gian xưa được truyền lại, trứng kiến trở thành sản phẩm đắt giá và được những người sành ăn tìm kiếm. Trước đây, trứng kiến chỉ có trong mùa thu hoạch trứng kiến (đầu mùa xuân hoặc vào mùa mưa) thì nay trứng kiến được các nhà hàng bảo quản kỹ bằng cách xôi chín và để đóng đá, bất kể khi nào có khách đặt là làm rã đông và chế biến.

Đến các làng bản ở Lai Châu trong mùa mưa này, du khách có dịp thưởng thức đủ các món chế biến từ trứng kiến như: Trứng kiến ướp gia vị trong lá dong, lá chuối và nướng trên bếp than hồng, hoặc món trứng kiến đồ cùng xôi nếp nương, làm nộm với lá chua chát, nấu canh ngọt dịu… cùng với những món ăn khác món trứng kiến trở thành món ăn không thể thiếu ở các bản làng văn hóa vùng cao.

Bánh đen được làm từ gạo nếp và cây màng tang, nhân bánh sử dụng thịt ba chỉ được trộn với thảo quả và mắc khén, tất cả được gói bằng lá mây.

Nếu có cơ hội ghé thăm bản người Nùng ở Tam Đường và được thưởng thức một bữa cơm với các món ăn truyền thống của dân tộc Nùng, chắc hẳn sẽ có món “khâu nhục”, một trong những món ăn hấp dẫn bậc nhất khiến bạn không thể quên.

Mặc dù có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng cùng với thời gian và đặc biệt là sự “Biến tấu” cho phù hợp với văn hóa ẩm thực của người Nùng, món khâu nhục đã mang được nét độc đáo rất riêng. Về cơ bản khâu nhục là hầm cách thủy thịt ba chỉ trong thời gian dài, nhưng cách chế biến khá phức tạp và nhiều công đoạn.

Ở Lai Châu có một đặc sản, đó là món canh tiết lá đắng. Phải thưởng thức món ăn này bạn mới có thể cảm nhận được nét độc đáo trong nghệ thuật ẩm thực của vùng đất này. Trước kia, khi món ăn này chưa phổ biến, để tìm được lá đắng về làm canh không phải đơn giản, bởi thứ cây này chỉ mọc ở nơi ven rừng, khe suối. Thường thì chỉ khi có khách quý, chủ nhà mới đi lên rừng tìm lá về nấu canh như một sự thể hiện lòng thân tình, mến khách. Bây giờ, bà con vùng này đã mang cây về trồng tại vườn nhà, trên nương, trên rẫy, bạn có thể mua được lá vào mỗi dịp chợ phiên.

Nguyên liệu và cách nấu canh lá đắng cũng thật đơn giản. Chỉ cần ít phổi lợn băm nhỏ, một miếng tiết và vài thứ rau thơm cùng với nắm lá đắng (có thể lá tươi hoặc đã phơi khô) vò nát, sau đó đun nước sôi cho tất cả nguyên liệu vào nấu chín kỹ là bạn đã có một bát canh lá đắng thơm ngon để thưởng thức. Nếu ai lần đầu nếm món canh này sẽ cảm thấy khó ăn bởi vị đắng, chát tê đầu lưỡi, nhưng chính vị đắng đó lại đánh thức vị giác của bạn khiến bữa ăn ngon miệng hơn. Tiếp tục thưởng thức, canh lá đắng lại mang lại vị ngọt, bùi, thơm ngậy đến kỳ lạ. Không chỉ là một món ăn ngon, canh lá đắng còn có tác dụng giải rượu và chữa được bệnh về tiêu hóa.

Theo quan niệm của người Mông bánh dày là biểu tượng của mặt trăng, mặt trời, tượng trưng cho sự sinh sôi, nảy nở của vũ trụ bao la. Bên cạnh đó chiếc bánh còn là biểu tượng của sự trong trắng, lòng chung thủy, son sắc của người phụ nữ Mông như một vòng tròn khép kín. Người Mông thường làm bánh dày vào dịp tết và các lễ hội. Dâng lên bàn thờ tổ tiên để bày tỏ lòng thành kính của mình, với ước mong các đấng linh thiêng phù hộ cho đôi chân to khỏe, để có thể vượt núi, chèo đèo, phát nương làm rẫy. Phù hộ cho mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Khi thưởng thức người ta cắt thành từng lát bánh, sau đó đem dán bằng mỡ lợn. Chiếc bánh được dán phồng lên, cũng là lúc mùi thơm của gạo nếp nương, hòa quyện mùi thơm dịu của trứng gà, mùi ngậy béo của mỡ lợn lan tảo khắp gian bếp nhỏ, tạo nên một món ăn vô cùng hấp dẫn.

Bánh chưng đen (Rùa Chía). Bánh chưng của người Dao gói tròn, dài khoảng 30cm, có thể dùng gạo nếp trắng hoặc nếp cẩm để gói, khi gói bánh chưng người ta thường trộn than cây màng tang giã nhỏ để có vị thơm ngon đặc sắc. Nhân bánh là dải thịt mỡ thái dài dính với bột thảo quả, để khi bánh chín mỡ ngấm đều vào bánh khi ăn có vị béo ngậy rất ngon miệng.

Món lòng lợn nhồi gạo nếp (tùng càng nhảng). Món này trộn tiết sống lẫn với thảo quả giã nhỏ, luộc chín tới vớt ra ăn ngay hoặc để ăn dần trong mấy ngày tết. Ở Sìn Hồ tiết trời xuân se se lạnh, món này để lâu cũng không bị hỏng. Khi ăn luộc chín lại cho nóng.

Dưa mèo là cách gọi thông thường của người dân ở Lai Châu về một loại dưa do người dân tộc Mông ở nơi “cuối trời Tây Bắc” này trồng, thu hái và đưa xuống chợ, ven đường bán “chơi” với giá 10.000 đồng/1kg. Bên ngoài và bên trong quả dưa mèo giống quả dưa chuột. Tuy nhiên quả dưa mèo to, dài hơn quả dưa chuột. Quả dưa mèo to nhất nặng đến hơn 1kg, quả nhỏ nhất cũng nặng tới chừng gần nửa cân. Vỏ quả trơn bóng, có màu xanh sáng xen lẫn những viền xanh mờ. Ruột quả màu trắng, cùi dày, nhiều hạt mềm…

Đặc sản Lai Châu mua về làm quà

Rượu Mông kê (Rượu Sùng Phài) một đặc sản độc đáo, đậm đà bản sắc của đồng bào dân tộc người Mông Thuộc tỉnh Lai Châu. Rượu Mông Kê sản phẩn truyền thống chất lượng hảo hạng bởi: – 100% hạt ngô nếp được tuyển chọn và lên men bằng lá và hạt kê thuốc ( thực tế một loại hạt thuốc bắc nhìn giống hạt kê chuyên dùng để chữa trị xương khớp và đường tiêu hóa ) – Nguồn nước Sùng Phài, Lai Châu và phương thức bí truyền ngàn năm của đồng bào dân tộc người Mông tạo lên hương vị thơm ngon, êm dịu đặc trưng vô cùng khó quên của rượu Mông kê. – Quy trình sản xuất từ khâu chọn giống ngô, nguồn nước, quá trình ủ lên men và trưng cất đều đảm bảo tuân thủ chặt chẽ theo nguyên tắc truyền thống bí truyền. – Sau khi được chưng cất, rượu được khử, lọc loại bỏ andehit, độc tố và các loại tạp chất trên dây truyền hiện đại sau đó hạ thổ từ 2 năm trở lên. – Vì vậy uống rượu Mông kê có tác dụng kích thích tiêu hóa ăn ngon miệng, bồi bỏ xương khớp và lưu thông khí huyết. – Uống rượu Mông Kê không gây phản ứng đau đầu,không gây mệt mỏi sau khi uống, đặc biệt phù hợp với các bưa ăn, tiệc liên hoan có nhiều thức ăn chứa nhiều đạm và chất béo như các đồ hải sản, thịt chó, đồ lẩu, đồ nướng…

Được xem như là đặc sản của vùng núi cao Tây Bắc nói chung và Lai Châu nói riêng, hạt dổi rừng là một trong những loại gia vị đặc biệt thơm ngon và quý hiếm của người dân vùng cao. Dổi là loại cây thân gỗ, mọc thẳng đứng ưa ánh sáng, rất ít cành và là cây lâu năm. Có nhiều loại, loại chỉ lấy gỗ làm nhà thường được gọi là dổi tẻ có hạt rất cứng và mùi hắc không ăn được, còn loại mà cho hạt thơm là dổi nếp hay được bà con vùng dân tộc dùng làm gia vị thì ít và hiếm hơn.

Hạt óc chó vốn được biết đến là thần dược cho não. Óc chó Sìn Hồ quả không được đều tăm tắp như của Trung Quốc, nhiều hạt do quá trình phơi chưa làm sạch được hết vẫn còn dính chút thịt quả nhưng mà chất lượng hạt thì khá bùi và ngậy.

Rượu nếp than hay còn có cái tên khác: “rượu nếp cẩm” là một đồ uống quen thuộc của người dân Tây Bắc nói chung và người Lai Châu nói riêng. Đây là loại rượu độc đáo không cần chưng cất mà chỉ ủ. Bên cạnh đó rượu nếp than còn là bài thuốc chữa bệnh, giúp tăng cường sức đề kháng và làm đẹp da.

Mật ong Mường Tè là sản vật đặc trưng, hiếm có ở Lai Châu được khai thác trong những khu rừng thuộc khu bảo tồn Thiên nhiên Mường Tè. Mật ong Mường Tè có mùi thơm tự nhiên đặc biệt khác so với các loại mật ong khác. Mùa vào rừng lấy mật ở Mường Tè thường diễn ra từ tháng 3-10 hàng năm

Tìm trên Google :

các món ăn ngon ở Lai Châu

đặc sản Lai Châu làm quà

ăn gì khi du lịch Lai Châu

các quán ăn ngon ở Lai Châu

đến Lai Châu nên ăn gì

địa điểm ăn uống Lai Châu

ẩm thực Lai Châu

Bạn đang xem bài viết Các Món Ăn Ngon Ở Ninh Thuận (Cập Nhật 08/2020) / 2023 trên website Misshutech.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!