Top #10 Thuyết Minh Về Cách Làm Món Phở Bò Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 # Top Trend | Misshutech.com

Thuyết Minh Về Món Ăn: Thuyết Minh Về Phở Hà Nội

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Nấu Bún Bò Viên Và Gân Bò Đơn Giãn Dễ Nhớ
  • Cách Nấu Bún Gà Ngon Tại Nhà
  • Cách Làm Hộp Quà Trên Messenger
  • Cách Làm Quẩy Nóng Giòn Siêu Hấp Dẫn
  • +10 Món Quà Sinh Nhật Cho Mẹ Ý Nghĩa Và Thiết Thực
  • I. Dàn Ý Thuyết Minh Về Món Ăn : Thuyết Minh về Phở

    Giới thiệu khái quát về phở – một món ăn truyền thống và phổ biến ở Việt Nam.

    • Nước dùng thường được hầm từ nhiều loại xương khác nhau như xương bò, xương lợn, gà,…
    • Để có một nồi nước dùng ngon, người nấu phở phải hầm xương từ tám đến mười giờ sau đó lọc qua rây để nước phở trong hơn.
    • Sau khi đã lọc xong, người ta cho các gia bị như nước mắm, bột ngọt, tiêu,… cùng các loại lộc như hành lá, mùi tàu,… để tăng thêm độ hấp dẫn cho món ăn
    • Khi nước dùng đã hoàn thành chúng ta chỉ cần cho nước dùng vào bánh phở là đã có thể có một tô phở thơm ngon, hấp dẫn để thưởng thức.

    c, Vai trò, ý nghĩa của phở trong đời sống của người Việt Nam

    Khẳng định vai trò, ý nghĩa của phở đối với con người và nêu cảm nghĩ của bản thân về món ăn này.

    II. Bài Viết Thuyết Minh Về Một Món Ăn : Phở Hà Nội

    1, Mở bài thuyết minh về phở Hà Nội

    Mỗi quốc gia, mỗi đất nước trên thế giới đều có những món ăn với nét độc đáo, hấp dẫn riêng và mỗi món ăn ấy luôn mang trên mình những đặc trưng riêng về đất nước của nó. Nếu nhắc đến Hàn Quốc người ta nhớ tới kim chi, tới Nhật Bản mọi người nhớ tới sushi, nhắc tới cà ri người ta sẽ nhớ ngay tới đất nước Ấn Độ thì mỗi khi nhớ về ẩm thực Việt Nam, chắc hẳn sẽ không thể không nhắc tới món ăn truyền thống, phổ biến khắp mọi miền của đất nước, đó chính là phở.

    2, Thân bài thuyết minh món phở Hà Nội

    Như chúng ta đã biết, phở là một trong số những món ăn truyền thống, phổ biến nhất ở Việt Nam từ xưa đến nay song có lẽ không ai biết chính xác nó ra đời vào khoảng thời gian nào. Tuy nhiên, đi sâu khám phá về nguồn gốc và sự ra đời của món ăn đặc biệt này, chúng ta có thể tìm thấy nhiều nguồn tài liệu cho thấy rằng phở ở nước ta hiện nay có nguồn gốc từ một món ăn của Trung Quốc có tên gọi theo âm Hán Việt là ngưu nhục phấn. Phở ở Việt Nam ra đời và định hình vào những năm đầu của thế kỉ XX và xuất hiện đầu tiên ở Nam Định và Hà Nội. Cho đến ngày nay, phở đã và đang trở thành món ăn phổ biến ở hầu khắp mọi nơi trên cả nước nhưng có thể nói Nam Định và Hà Nội là những mảnh đất có hương vị phở nổi tiếng, đậm đà và hấp dẫn nhất.

    Phở là món ăn quen thuộc, phổ biến ở Việt Nam, bởi vậy, những nguyên liệu cần thiết để nấu phở cũng rất dễ tìm kiếm. Nhắc đến phở, người ta sẽ nhớ ngay tới bánh phở và nước dùng. Để có một món phở ngon điều quan trọng trước hết là phải có được bánh phở ngon, điều đó có nghĩa là bánh phở phải vừa mềm vừa dai để khi ăn không có cảm giác bị bục hay quá nhão. Người ta thường là bánh phở từ loại gạo tẻ trắng, thơm, điều đó góp phần gợi nên nét dân dã mà không kém phần hấp dẫn của món ăn này. Thêm vào đó, nước dùng chính là phần quan trọng không thể thiếu để tạo nên một món phở ngon. Nước dùng thường được hầm từ nhiều loại xương khác nhau như xương bò, xương lợn, gà,… tùy vào món phở mà người đầu bếp muốn chế biến. Để có một nồi nước dùng ngon, người nấu phở phải hầm xương từ tám đến mười giờ sau đó lọc qua rây để nước phở trong hơn. Sau khi đã lọc xong, người ta cho các gia bị như nước mắm, bột ngọt, tiêu,… cùng các loại lộc như hành lá, mùi tàu,… để tăng thêm độ hấp dẫn cho món ăn. Khi nước dùng đã hoàn thành chúng ta chỉ cần cho nước dùng vào bánh phở là đã có thể có một tô phở thơm ngon, hấp dẫn để thưởng thức.

    Đặc biệt, cách thưởng thức phở cũng rất quan trọng và có lẽ bởi vậy có nhiều người gọi đó là “nghệ thuật thưởng thức phở’. Nhắc đến “nghệ thuật thưởng thức phở” ông cha ta từ ngàn đời xưa đã có câu:

    Quả đúng như câu ca trên, để tăng thêm hương vị, sự hấp dẫn, đậm đà cho món ăn, khi ăn phở người ta thường cho thêm chanh hoặc quất hay một ít dấm. Đồng thời, người ta vẫn thường ăn kèm phở với giá đỗ, rau sống và tỏi ngâm. Tất cả những hương vị ấy sẽ góp phần làm cho món phở thêm thơm ngon, hấp dẫn. Nếu chúng ta thiếu đi bất cứ nguyên liệu nào thì rất khó để có thể cảm nhận hết được hương vị của món ăn này. Thêm vào đó, tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi vùng miền và sở thích ăn uống của mỗi người mà chúng ta có thể thêm vào một số gia vị để phù hợp hơn.

    Phở là món ăn bình dị, phổ biến và quen thuộc với tất cả chúng ta song nó lại có vai trò, ý nghĩa to lớn trong đời sống của những người con đất Việt. Trước hết, phở là món ăn tổng hòa từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau nên chúng cung cấp cho con người nhiều chất dinh dưỡng như canxi, các loại khoáng chất, các loại vitamin,… Thêm vào đó, phở cũng mang lại giá trị kinh tế lớn cho con người bởi lẽ mỗi tô phở có giá thành giao động từ 20.000 đến 25.000 đồng thậm chí có nhiều nơi là 50.000, 60.000 hay 100.000 đồng. Đồng thời, phở là món ăn ở vị trí “linh hồn” của ẩm thực Việt Nam, là một trong số những món ăn hấp dẫn trên thế giới. Và chắc có lẽ bởi vậy, du khách nước ngoài khi về thăm đất nước Việt Nam bao giờ cũng thường thức món ăn đặc biệt này. Không dừng lại ở đó, phở còn là món ăn xuất hiện nhiều trong các sáng tác văn học và nhạc họa từ xưa đến nay như thơ của Tú Xương, văn của Thạch Lam,…

    Tóm lại, phở là một món ăn truyền thống và có giá trị đặc biệt trong ẩm thực của Việt Nam và ngày càng định hình được vị trí của nó trong nền ẩm thực của thế giới bởi nó mang trong mình cái nét đẹp của hồn quê Việt trong những sợi phở mềm dai và cái ngọt ngào, đằm thắm của nước dùng.

    Từ khóa tìm kiếm nhiều :

    dàn ý thuyết minh về món ăn

    thuyết minh về món phở

    thuyết minh về phở hà nội

    thuyết minh về một món ăn

    thuyết minh về 1 món ăn

    dàn ý thuyết minh về món ăn lớp 8

    dàn ý thuyết minh về một món ăn

    Bình Luận Facebook

    .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Nấu Phở Gà, Phở Bò Ngon Với Vài Tuyệt Chiêu Đơn Giản
  • Cách Nấu Nước Phở Gà, Bò Trong, Thơm Ngon Đậm Đà Để Kinh Doanh
  • Cách Nấu Phở Bò, Phở Gà Ngon Đơn Giản Chuẩn Vị Tại Nhà
  • Cách Làm Các Món Bún Cho Bé Ăn Dặm
  • Phở Bò Việt :: Việt Anh Song Ngữ
  • Thuyết Minh Về Món Phở Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Cách Nấu Món Phở Hà Nội
  • Thuyết Minh Về Món Ăn Dân Tộc Quê Hương: Món Phở
  • Cách Nấu Phở Bò Tái Chín Ngon Để Kinh Doanh
  • Ngày Mưa Tự Làm Món Phở Gà Ăn Ngon Ấm Bụng
  • Cách Nấu Món Phở Gà Trộn Vừa Ngon Vừa Bổ Dưỡng
  • Đề bài: Thuyết minh về món phở Hà Nội

    Ẩm thực Việt luôn là đề tài không bao giờ có điểm dừng. Chúng ta tự hào là người con của một quốc gia có nền ẩm thực độc đáo, không chỉ thu hút người dân trong nước mà cả du khách nước ngoài. Với nền văn hóa ẩm thực đa dạng từng vùng miền khác nhau, ẩm thực luôn là thứ thu hút khách du lịch nhất. Trong nhiều cuộc bình chọn của tờ báo trong nước và quốc tế, thì “phở” là món ăn được nhiều người ưa thích nhất, cả người Việt và bạn bè quốc tế.

    Phở nổi tiếng nhất vẫn là phở Hà Nội. Không biết tự bao giờ, phở đã trở thành món ăn vô cùng hấp dẫn mỗi khi đến Hà Nội. Với hương vị độc đáo không có một nơi nào có được, phở Hà Nội đã in sâu vào tiềm thức con người, mặc định nó là món ăn ngon nhất. Muốn ăn phở phải đến Hà Nội. Vào những năm 1940. phở đã rất nổi tiếng ở Hà Nội. Phở là một món ăn có thể ăn vào bất cứ khoảng thời gian nào mà bạn muốn: sáng, trưa, chiều, tối đều được cả. Điểm đặc biệt, món phở không ăn kèm, uống kèm bất cứ thứ gì khác. Một bát phở bao gồm: nước dùng, bánh phở, gia vị ăn kèm như tiêu, hành lá, lát chanh, ớt… Nước dùng của phở có thể được chế biến từ xương bò: xương cục, xương ống và xương vè. Bánh phở phải dai, mềm. Hành lá, ớt, tiêu tăng thêm mùi vị của bát phở. Tùy thuộc vào bí quyết nấu mà mỗi nơi lại có mùi vị của phở khác nhau.

    Thuyết minh về món phở Hà Nội

    Chế biến món phở, khâu quan trọng nhất là khâu nấu nước dùng. Nước dùng là linh hồn của bát phở nên nước dùng không ngon bát phở cũng không giữ được hương vị của nó. Nước dùng truyền thống được ninh từ xương ống của bò cùng với một số gia vị trong nhiều giờ. Khâu chọn xương cũng rất kĩ lưỡng. Đầu bếp chọn xương phải không còn thịt bám vào, xương phải được rửa sạch, sau đó được cho vào nồi đun với nước. Sôi lầm đầu, người nấu sẽ đổ hết phần nước đi. Làm như vậy là để nước dùng không bị nhiễm mùi hôi của xương bò. Sau đó, họ lại cho nước vào nồi ninh tiếp. Đến lúc này, nước ninh mới được dùng làm nước dùng cho bát phở. Lúc này, để làm nước dùng có hương vị ngon, đầu bếp sẽ cho gừng và củ hành đã được nướng chín vào nồi. Nồi nước dùng được đun trên lửa lớn đến khi sôi. Khi nước bắt đầu sôi, người nấu vặn nhỏ lửa hơn, bắt đầu vớt bọt trong nồi. Người nấu vớt bọt để nước dùng trong, không bị đục. Sau đó họ lại cho thêm nước, để lửa lớn đến khi sôi, giảm lửa và tiếp tục vớt bọt. Họ cứ làm liên tục như vậy đến khi nước dùng trong, không xuất hiện bọt nữa. Lúc này, người nấu cho một số gia vị và đun ở lửa nhỏ sao cho nồi nước sôi lăn tăn. Làm như vậy để nồi nước trong, vị ngọt từ xương có thời gian tan ra hòa vào nước dùng và giữ được nhiệt độ nóng. Thường ở các quán phở, họ thường để nồi nước trên lửa nhỏ cả ngày, đến khi không còn khách cũng như không bán nữa thì thôi. Món phở Hà Nội hấp dẫn là bởi nước dùng của nó có hương vị ngọt chân chất của xương ống, cùng với đó là những bánh phở dai mềm, thịt bò vừa chín tới được nêm nếm vừa miệng. Màu nước dùng trong, bánh phở mỏng trắng hòa quyện cùng hương vị của hành lá, ớt, ngò, chanh. Tất cả hòa vào nhau thành một thể thống nhất, không thể tách rời, thiếu đi một thứ, bát phở không thể hoàn hảo.

    Có ba món phở chính là: phở nước, phở xào và phở áp chảo. Trong ba loại trên, phở nước là phổ biến nhất. Phở nước được ăn nóng. Bát phở nóng hổi nghi ngút rất thích hợp cho những ngày đông lạnh ở Hà Nội. Phở nước gồm phở bò, phở gà, phở tim gan. Có các loại phở khác nhau là do nước dùng cùng thịt ăn kèm khác nhau. Nhưng những người sành ăn vẫn lựa chọn phở bò cho thực đơn của mình. Món phở hấp dẫn bởi hương vị tinh túy cũng như ngọt ngào mà nước dùng đem lại. Du khách bị hấp dẫn bởi món phở vì sự lạ lẫm cũng như hương vị độc đáo của nó. Một bát phở ngon luôn được trình bày trong bát sứ với độ lớn vừa phải. Khi ăn phở, một tay sẽ cầm đũa, tay còn lại sẽ cầm thìa. Đũa được sử dụng phổ biến nhất để ăn phở là đũa tre vì sự tiện lợi cũng như không trơn làm rơi miếng bánh phở xuống. Phở ăn nóng và không ăn kèm thêm bất cứ món ăn, đồ uống nào khác. Phở là món ăn tinh tế, đặc trưng của đất Hà Thành. Món phở đã làm xao xuyến biết bao thế hệ nhà văn để rồi có được những tác phẩm văn học tuyệt vời. Như Thạch Lam trong “Hà Nội băm sáu phố phường” đã có viết: “phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, không phải chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ Hà Nội mới ngon”. Còn rất nhiều nhà văn nhà thơ khác viết về phở Hà Nội như Nguyễn Tuân, Vũ Bằng…

    Phở là một món ăn truyền thống, nổi tiếng của Việt NAm và đặc biệt là Hà Nội. Bất cứ ai đến hà Nội cũng mong muốn được thưởng thức tô phở nóng hổi nghi ngút. Những người con xa Hà Nội mỗi khi trở về luôn tìm lại những quán phở thân thuộc để thưởng thức hương vị đã lâu không nếm. Phở là giá trị ẩm thực, nét ẩm thực đáng tự hào của chúng ta.

    Thống kê tìm kiếm

    • thuyết minh về phở
    • thuyết minh về món phở
    • thuyết minh về phở hà nội
    • thuyết minh về món phở hà nội
    • thuyết minh về món ăn dân tộc phở
    • thuyết minh về phở việt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mách Bạn Cách Chọn Thịt Bò Tươi Ngon Cho Món Phở Truyền Thống
  • Cách Làm Bún Bò Khô Nam Bộ Ngon Trong Ngày Sum Họp Gia Đình
  • Cách Làm Món Bún Bò Huế Đơn Giản
  • Hướng Dẫn Cách Làm Món Bún Bò Giò Heo Ngon Như Nhà Hàng
  • Bật Mí Cách Nấu Các Món Bún Phở Cho Bé Thơm Ngon
  • Thuyết Minh Về Món Ăn Dân Tộc Quê Hương: Món Phở

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nấu Phở Bò Tái Chín Ngon Để Kinh Doanh
  • Ngày Mưa Tự Làm Món Phở Gà Ăn Ngon Ấm Bụng
  • Cách Nấu Món Phở Gà Trộn Vừa Ngon Vừa Bổ Dưỡng
  • Chatbot Là Gì? Chatbot Viral Là Gì?
  • Hướng Dẫn Cách Làm Quà Handmade Tặng Đơn Giản Mà Đẹp
  • Đề bài thuyết minh về món ăn dân tộc, ở đây chúng tôi chọn món Phở Hà Nội là món ăn truyền thống của đất nước ta. Dàn ý các em tự thực hiện, chúng tôi chỉ giới thiệu bài văn mẫu tham khảo sử dụng khi làm bài tập tại lớp. Xin mời xem qua.

    – Dải đất hình chữ S có có sự đa dạng về ẩm thực và nhiều món ăn ngon và độc đáo.

    – Phở là món ăn dân tộc đậm đà của văn hóa dân tộc Việt Nam.

    I. Thân bài Nguồn gốc:

    – Phở ra đời vào đầu thế kỷ 20.

    – Nguồn gốc còn tranh cãi, có người cho rằng phở từ Nam Định cũng có người cho rằng Hà Nội mới là nơi giúp món phở nhiều người biết đến.

    Chế biến:

    – Nước dùng hay nước lèo. Nước dùng được ninh từ xương ống bò và gia vị. Xương rửa sạch, cạo sạch thịt cho vào nồi đun cùng với nước lạnh. Nước luộc xương lần đầu đổ đi, nước luộc lần sau là nước lèo.

    Gừng và củ hành đã nướng. Lửa đun khi nước sôi lên, giảm bớt lửa, vớt bọt. Vớt bọt liên tục đến khi nước trong. Cho thêm ít gia vị vào trong nồi.

    Các loại phở:

    – Phở ở Hà Nội

    – Phở bò Nam Định

    – Phở Sài Gòn

    – Phở ở hải ngoại

    – Phở ăn liền

    Phở trong văn hóa:

    Phở Việt Nam gồm có các loại như phở bò, phở gà… Phở đựng trong tô, sẵn đũa, muỗng và những gia vị: tương, chanh, nước mắm, ớt…

    Phở trong văn học, nghệ thuật:

    Phở nhiều nhà văn đã đưa vào thơ ca ví dụ như Nguyễn Tuân, Vũ Bằng (Miếng ngon Hà Nội), Thạch Lam (Hà Nội 36 phố phường),…

    Phở trong cuộc sống hiện đại:

    Phở truyền thống cũng chuyển sang phở công nghiệp theo dạng đóng gói như phở chay, phở ăn liền giúp người ăn tiện lợi nhanh chóng, không cần phải ra quán xá.

    III. Kết bài

    – Phở là món ăn truyền thống, tinh hoa ẩm thực Việt Nam.

    – Món phở được bạn bè 5 châu vô cùng yêu mến và trở thành biểu tượng ẩm thực Việt.

    Với dàn ý thuyết minh về món ăn dân tộc các bạn sẽ viết thành bài tập làm văn hoàn chỉnh. Lưu ý rằng dàn ý có thể khác với bài văn bên dưới. Mọi bài viết trên website đều chỉ có tính chất tham khảo khi viết văn.

    Thuyết minh về món ăn dân tộc Phở Hà Nội

    Nhắc đến đất nước hình chữ S có biết bao nhiêu món ăn đặc sản dân tộc, mỗi vùng miền lại có những món ăn khác nhau. Đến Hà Nội du khách phải thử một lần món phở, món ăn đại diện cho bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

    Món phở ra đời vào đầu thế kỷ 20, nơi xuất hiện đầu tiên vẫn còn tranh cãi, người thì nói Nam Định nhưng cũng có người cho rằng Hà Nội là nơi biến món ăn trở nên nổi tiếng đại diện cho nền ẩm thực nước ta.

    Món phở theo thời gian có nhiều biến chuyển, trước kia chỉ là phở bò chín nhưng dần dần xuất hiện phở tái, phở gà, phở cuốn, phở xào, phở rán…rất nhiều những loại phở khác nhau làm đa dạng thêm những món ăn của nền ẩm thực Việt.

    Phố có đặc điểm rất riêng biệt khi chỉ ăn một mình không dùng kèm với các món ăn khác, người Hà Nội thường ăn phở chủ yếu vào buổi sáng, còn du khách đến với Hà Nội có thể ăn vào bất kì thời gian nào trong ngày đều được, các quán xá mở suốt ngày sẵn sàng phục vụ. Phở dùng nguyên liệu chính là bánh phở màu trắng thành phần chính từ gạo. Nước dùng hay còn gọi là nước lèo chính là tinh túy của món phở, nước dùng ninh bằng các loại xương và hương liệu khác như gừng, quế, hoa hồi, đinh hương, thảo quả…mỗi người lại có bí quyết riêng để nấu nước dùng giúp thực khách ngon miệng. Mỗi bát phở sẽ ăn kèm với một số rau gia vị ví dụ hành tây, rau húng, vài miếng chanh, rau thơm,tương ớt…ăn kèm với loại rau nào cũng tùy theo vùng miền.

    Khi đến một quán phở Hà Nội, chủ quán sẽ mang đến cho bạn menu chọn loại phở ví dụ như phở bò, phở gà. Khi khách hàng gọi 5 phút sẽ có một bát phở nóng hổi, thơm lừng đặt trước mặt, thực khách thêm vào ớt, chanh và hạt tiêu. Trộn đều lên với nhau, cầm bát lên ngang mặt và thưởng thức sự tinh túy bên trong.

    Nhắc đến phở nhiều nhà văn đã đưa vào thơ ca ví dụ như Nguyễn Tuân, Vũ Bằng (Miếng ngon Hà Nội), Thạch Lam (Hà Nội 36 phố phường),…theo thời gian phở truyền thống cũng chuyển sang phở công nghiệp theo dạng đóng gói như phở chay, phở ăn liền giúp người ăn tiện lợi nhanh chóng thưởng thức mà không cần phải ra quán xá. Chính điều này đã giúp món ăn này trở nên rất phổ biến len lỏi vào từng gia đình.

    Nền ẩm thực nước ta đa đạng, phong phú, trong đó phở là biểu tượng ẩm thực Việt. Món ăn bổ dưỡng nay đã được phổ biến trên toàn thế giới, người Việt xa xứ có thể đến quán ăn có món phở thưởng thức bất kì lúc nào khi nhớ về quê nhà. Còn gì tuyệt vời khi mỗi buổi sáng được ăn một bát phở nóng hổi, thơm ngon và giàu dinh dưỡng.

    Tham khảo một số đoạn văn trong thân bài

    Đoạn văn thuyết minh về cách làm phở

    Phở là một món ăn đường phố truyền thống của người dân Việt Nam. Để làm được một món phở ngon thì trước tiên phải chuẩn bị thật tốt ngay từ khâu chọn nguyên liệu. Đầu tiên là chọn bánh phở. Bánh phở ngon phải là loại vừa mềm vừa dai, khi ăn mới có cảm giác ngon, không bị bục hoặc bở. Bánh phở chọn quá nhão cũng làm cho món phở mất ngon. Tiếp đến là công đoạn nấu nước dùng. Nước dùng được làm từ nhiều loại xương như gà, lợn, bò. Nhưng ngon nhất là loại xương được hầm từ xương lợn khiến nước được ngọt và thanh đạm nhất. Xương được rửa sạch và luộc từ 8 – 10 tiếng, sau đó lọc qua rây. Trong quá trình luộc người ta cũng thường xuyên vớt bọt để nước được trong và ngọt hơn. Các gia vị thêm vào nước dùng cần có như bột ngọt, hành lá, mùi tàu làm cho hương vị thêm đậm đà và thơm ngậy. Thành phẩm cho ra là một bát phở đảm bảo nước dùng phải trong và ngọt. Khi tra bánh phở không được quá nhão mà phải có độ mềm nhất định. Hương vị rậy lên mùi thơm của thịt và rau mùi. Tùy vào khẩu vị của mỗi người mà khi ăn có thể tra thêm hạt tiêu, muối ớt hay giấm. Để ngon hơn thường được ăn kèm với rau sống như xà lách, hoa chuối, giá đỗ,…Các loại rau ăn kèm này có thể được trần qua nước sôi để đảm bảo hợp khẩu vị mỗi người.

    Đoạn văn thuyết minh về ý nghĩa món phở

    Phở là một món ăn ngon đi vào đời sống của mỗi người dân Việt Nam từ xưa đến nay. Nó là món ăn giàu chất dinh dưỡng, được xếp vào thực đơn bữa sáng của mỗi hộ gia đình. Phở cung cấp canxi, chất dinh dưỡng và vitamin thiết yếu cho mỗi chúng ta. Đối với mỗi người dân Việt, món phở còn đi vào đời sống sinh hoạt, làm nên giá trị kinh tế cho nhiều hộ gia đình. Dường như nó đã trở thành nếp ăn, nếp sống của một số địa phương. Chẳng phải thế mà người ta vẫn thường nghe đến những món ăn đặc sản. Trong đó Hà Nội hay Nam Định được xem là những nơi nổi tiếng với món phở. Không những thế, phở còn đi vào đời sống ẩm thực làm nên những nét đẹp trong văn hóa ẩm thực Việt Nam. Nó đã góp phần làm nên một ẩm thực Việt rất riêng trong mắt bạn bè quốc tế. Trong ca dao, dân ca phở cũng đi vào như một giá trị tinh thần thiết yếu của người dân.

    Nhớ xem bài văn hay Thuyết minh về món ăn ngày tết đó là món thịt kho tàu và củ kiệu. Bài văn thuyết minh về cách làm bánh chưng hay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Cách Nấu Món Phở Hà Nội
  • Thuyết Minh Về Món Phở Hà Nội
  • Mách Bạn Cách Chọn Thịt Bò Tươi Ngon Cho Món Phở Truyền Thống
  • Cách Làm Bún Bò Khô Nam Bộ Ngon Trong Ngày Sum Họp Gia Đình
  • Cách Làm Món Bún Bò Huế Đơn Giản
  • Thuyết Minh Cách Nấu Món Phở Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Món Ăn Dân Tộc Quê Hương: Món Phở
  • Cách Nấu Phở Bò Tái Chín Ngon Để Kinh Doanh
  • Ngày Mưa Tự Làm Món Phở Gà Ăn Ngon Ấm Bụng
  • Cách Nấu Món Phở Gà Trộn Vừa Ngon Vừa Bổ Dưỡng
  • Chatbot Là Gì? Chatbot Viral Là Gì?
  • Thuyết minh cách nấu món phở Hà Nội

    Ngày nay, đặc sản Hà Nội thì có nhiều lắm, nào là bún chả, bánh cốm, chả cá Lã Vọng, cà phê trứng giảng,… nhưng phở Hà Nội vẫn luôn là đặc sản số 1 trong lòng người Việt Nam và nước ngoài. Không ai đến Hà Nội là không thử qua phở, dù là già, trẻ, gái trai, người bình dân đến người giàu, người nước ngoài hay người Việt Nam đều rất chuộng món ăn đặc sản này, nhất là hương vị phở xưa. Riêng phở Hà Nội thôi thì đủ loại biến tấu, nào là phở bò Hà Nội, phở gà Hà Nội, phở tái gầu, nạm, sốt vang.

    1. Nguồn gốc món phở Hà Nội:

    Phở là một món ăn bình dân, là một thứ quà Hà Nội. Không chỉ Hà Nội mới có phở, nhưng chỉ có phở Hà Nội mới ngon, mới đặc biệt như thế. Phở Hà Nội ngon phải là phở xưa được nấu vào những năm 1940, khi người ta ăn cả phở vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối. Theo công thức nấu phở Hà Nội xưa là phải nấu từ thịt bò, nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn nhưng ko dai,… và đầy đủ các loại nguyên liệu ăn kèm khác. Đặc biệt, không thể thiếu một nguyên liệu tạo vị ngọt của Phở Hà Nội. Đó chính là sá sùng.

    2. Nguyên liệu để làm phở Hà Nội xưa: Cho 5 bát phở

    • Bánh phở: 1 kg
    • Thịt bò: 600 gr
    • Xương ống bò: 1 kg
    • Nạm bò: 600 gr
    • Tôm he: 300 gr
    • Sá sùng khô: 100 gr
    • Ngũ vị hương: Quế, hồi, đinh hương, trần bì, thảo quả
    • Hành khô: 4 củ. Gừng: 1 củ. Rễ rau mùi: 4 nhánh. Hành tươi. Chanh, ớt
    • Nước mắm ngon
    • Rau ăn kèm: húng quế, rau mùi, giá, hành tươi, hành tây…

    3. Cách nấu phở Hà Nội xưa

    Bước 1: Sơ chế nguyên liệu

    – Rang ngũ vị hương: Cho ngũ vị hương đã chuẩn bị vào chảo rang trong vòng 2 phút cho thơm.

    – Thái hành khô, gừng, sau đó đập ra rồi đem đi nướng sơ qua. Sau đó cho ngũ vị hương, hành khô, gừng đã rang và rễ rau mùi vào túi vải.

    – Cắt chanh, ớt, hành tây, hành tươi.

    Bước 2: Nấu nước dùng phở Hà Nội

    – Cho xương bò, tôm he, sá sùng khô vào nồi hầm khoảng 2 tiếng. Khi chất bổ của sá sùng tan hết vào nước thì vớt chất bọt và các nguyên liệu đi để cho thật trong.

    – Sau đó cho túi vải đã đựng các nguyên liệu đã rang ở bước 1 – Sơ chế nguyên liệu vào nồi nước dùng phở. Sau 15 phút, bạn vớt túi vải ra và cho 3 thìa nước mắm ngon vào nước dùng sau đó tắt bếp.

    Yêu cầu: Nấu nước dùng phở Hà Nội phải thật trong. Lưu ý, 2 lít nước sẽ nấu được khoảng 5 bát phở.

    Bước 3: Hoàn thành món phở.

    – Thái thật mỏng thịt bò và nạm bò. Bạn nhớ thái ngang với thớ thịt nha.

    – Chần qua phở và tráng qua bát phở cho nóng. Sau đó cho phở vào bát, cho thêm thịt bò, nạm bò và cho thêm nước dùng vào bát. Tiếp đến là cho hành tươi, rau mùi, hành tây, tiêu vào. Phở Hà Nội thường được ăn kèm giá, húng quế… chanh, ớt nha.

    Vậy là chúng ta đã hoàn thành xong công thức nấu phở Hà Nội xưa rồi. Tuy nguyên liệu có hơi cầu kỳ nhưng nếu bạn yêu thích hương vị phở Hà Nội chính gốc thì hãy thử vào bếp làm món ăn đặc sản Hà Nội theo công thức này cho gia đình nha.

    4. Trình bày.

    Đầu tiên, cho bánh phở đã nhúng qua nước sôi, để ráo rồi cho vào tô vừa ăn. Sau đó, dùng đũa xới đều bánh phở cho bánh không dính vào nhau.

    Tiếp theo, cho thịt bò xắt từng lát hoặc tùy theo sở thích của người ăn mà xếp vào tái, nạm, vè, gầu…. làm sao thật khéo léo để cho mỗi đũa gắp bánh phở của thực khách đều kèm theo thịt. Ngoài màu trắng của bánh phở, màu nâu của thịt bò hay màu vàng trong gầu, hành lá, hành tây và ngò cũng góp phần tô điểm cho tô phở thêm phần đẹp mắt và ngon miệng.

    Đối với bước chan nước phở vào tô mới lắm công phu vì nước ngon nhưng phải được chan vào đều trên mặt tô phở, xung quanh miếng thịt khi đó thịt vẫn chín nóng đều mà vẫn giữ màu xanh của hành lá, hành củ và ngò trên tô phở.

    Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, không phải chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ ở Hà Nội mới ngon. Từ mảnh đất thủ đô, món phở không ngừng được biết đến ở các miền đất khác và cả hải ngoại. Người nước ngoài ăn phở luôn khen ngợi hương vị thơm ngon, đậm đà rất hấp dẫn, rất Việt Nam.

    “Món ăn, xét bề ngoài, chỉ là cái đích của sự thỏa mãn vật dục, Nhưng đi sâu, ta vô cùng ngạc nhiên thấy nó biểu hiện trình độ văn hóa vật chất thì rất ít, nhưng biểu hiện trình độ văn hóa tinh thần thì rất nhiều” (Balzac).

    Món ăn của người Việt đặc sắc, nổi tiếng đến nỗi ông Phi-líp Kôt-lơ, cha đẻ của maketing hiện đại khuyên là nên lấy “Âm thực” làm khâu đột phá trong chiến dịch truyền bá thương hiệu Việt trên toàn thế giới. Một trong những món ăn đặc trưng nhất cho ẩm thực Việt Nam đó là phở. Món phở có mặt từ Nam tới Bắc với nhiều hương vị khác nhau tùy từng vùng miền. Phở Việt Nam đã nổi tiếng khắp thế giới và còn được tôn vinh là “di sản Việt Nam”. Có giả thuyết cho rằng, phở được đưa vào từ Quảng Đông (Trung Quốc) qua những đợt thiên di về phương Nam của người dân vùng này.

    Bởi quá ghiền cái món ăn này mà không có dủ tiền, nhà thơ Tú Xương có lần viết:

    Xì tắc mày rao đã điếc tai

    Tiền thì không có biết vay ai.

    Cho tao ăn chịu thêm một bát

    Sáng mai tao trả một thành hai.

    Trong cuốn Trăm năm truyện Thăng Long Hà Nội của nhà văn Siêu Hải (sinh 1924 tại Hà Nội), ông viết: “Nguồn gốc của nó (phở) là món xáo trâu có hành, răm ăn với bún. Bà con ta thường gọi là xáo trâu và món này rất phổ biến ở các chợ nông thôn và các xóm bình dân ở Hà Nội”. Trong tùy bút Phở, Nguyễn Tuân mô tả: “Hồi còn mồ ma ông tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi chạy tầu thủy trên các sông dọc Bắc Kỳ, tầu thủy mắc cạn, người ta bắt bí bắt chẹt hành khách cũng chưa bao giờ sung sướng và hách đến như thế. Bên cạnh tiếng nổ xe bình bịch lái xuống tận đây ăn quà sớm, khói phở phảng phất giây lát mùi ét xăng…”. Trong Hà Nội 36 phố phường viết năm 1942, Thạch Lam đã viết về phở như sau: “Phở là thứ quà dặc biệt của Hà Nội. Không phải chỉ riêng Hà Nội mới có nhưng chính là vì chỉ ở Hà Nội mới ngon”.

    Chuẩn bị cho món phở thật ngon không quá cầu kì. Trong món phở, công đoạn chế biến nước dùng, còn gọi nước lèo, là công đoạn quan trọng nhất. Nước dùng của phở truyền thông là phải được ninh từ xương ống của bò cùng với một số gia vị. Xương phải dược rửa sạch, cạo sạch hết thịt bám vào xương rồi cho vào nồi đun với nước lạnh. Nước luộc xương lần đầu phải đổ đi để nước dùng khỏi bị nhiễm mùi hôi của xương bò, nước luộc lần sau mới dùng làm nước lèo. Gừng và củ hành đã nướng đồng thời cũng được cho vào. Lửa đun được bật lớn để nước sôi lên, khi nước đã sôi thì phải giảm bớt lửa và bắt đầu vớt bọt. Khi đã vớt hết bọt, cho thêm một ít nước lạnh và lại đợi nước tiếp tục sôi tiếp để vớt bọt…

    Cứ làm như vậy liên tục cho đến khi nước trong và không còn cặn trong bọt nữa. Sau đó, cho một ít gia vị vào và điều chỉnh độ lửa sao cho nồi nước chỉ sôi lăn tăn để giữ cho nước khỏi bị đục và chất ngọt từ xương có đủ thời gian để tan vào nước lèo. Hương vị thơm ngon của nước dùng chủ yếu do các loại gia vị quyết định. Tuy nhiên, công thức của từng loại nước dùng cụ thể cho từng hiệu phở được giữ khá bí mật. Mặc dù vậy, có thể nhận thấy các loại gia vị này bao gồm thảo quả, gừng, hoa, hồi, đinh hương, hạt ngò gai, thanh quế, hành khô, tôm nõn, địa sâm và theo truyền thống, không thể thiếu một cái đuôi bò.

    Phở thông thường dùng làm món ăn điểm tâm, hoặc ăn tối. Phở luôn phải ăn nóng mới ngon, tuy nhiên, để có được những bát phở ngon còn tùy thuộc vào kinh nghiệm và bí quyết truyền thông của nghề nấu phở. Phở thường là phở bò, nhưng cũng có phở gà, phở heo, phở tôm,… Ngoài những kiểu chế biến truyền thống, ngày nay người ta còn tạo ra nhiều loại phở khác như phở cuôíh, phở áp chảo, phở xào, phở bò viên sa tế,… và phở trong công nghiệp đóng gói như phở ăn liền, phở chay, phở công nghiệp,…

    Khẩu vị và cách thưởng thức phở thay đổi tùy vùng. Ớ miền Bắc, ngoài phở bò còn có phở gà; ăn phở thì chỉ dùng kèm với hành cọng hoặc hành tím, ít dùng rau. Ớ các tỉnh phía nam Việt Nam, phở được bày biện với những thành phần phụ gọi là rau thơm như hành, giá và những lá cây rau mùi, rau húng, trong đó ngò gai là loại lá đặc trưng của phở. Miền Trung thì nước dùng phở có bổ sung nhiều sản vật của biển như khô mực, tôm khô tạo hương vị đặc trưng cho nước dùng phở. Ngoài ra còn một sô” món ẩm thực từ nguyên liệu bánh phở truyền thông như phở cuốn, loại phở xuất hiện vào thập niên 1970 là phở xào, của thập niên 1980 là phở rán…

    Phở không những là một món ăn truyền thống hấp dẫn, quen thuộc của Việt Nam nó đã trỏ’ thành một trong những biểu tượng về văn hóa ẩm thực của Việt Nam được cả thế giới biết đến. “Phở là món ăn Việt Nam tinh tế, truyền thông, quảng đại và giàu vitamin mà lại không gây béo”, ông Didier Corlou, bếp trưởng khách sạn Soíìtel Metropole khẳng định như vậy tại cuộc hội thảo “Phở – Di sản của Việt Nam” do Cộng đồng châu Au và Câu lạc bộ Văn hóa Am thực UNESCO Việt Nam đã phôi hợp tổ chức. Phở và gỏi cuốn của Việt Nam vừa lọt vào danh sách 50 món ăn ngon nhất thế giới do Hãng CNN bình chọn. Trước đó, ngày 20 tháng 9 năm 2007, Từ điển tiếng Anh giản lược Oxford (Shorter Oxford English Dictionary) khi xuất bản đã đưa vào từ “phở”. Phở Việt Nam hiện có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới và trỏ’ thành món ăn được nhiều người ưa thích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Món Phở Hà Nội
  • Mách Bạn Cách Chọn Thịt Bò Tươi Ngon Cho Món Phở Truyền Thống
  • Cách Làm Bún Bò Khô Nam Bộ Ngon Trong Ngày Sum Họp Gia Đình
  • Cách Làm Món Bún Bò Huế Đơn Giản
  • Hướng Dẫn Cách Làm Món Bún Bò Giò Heo Ngon Như Nhà Hàng
  • Thuyết Minh Về Xôi Gấc

    --- Bài mới hơn ---

  • Độc Đáo Bún Bò Cơm Nguội Xứ Huế, Vừa Quen Vừa Lạ Lê Uyên
  • Độc Đáo Bún Bò Cơm Nguội Xứ Huế, Vừa Quen Vừa Lạ
  • Cách Nấu Chè Khoai Môn Với Nếp Nhanh
  • Cách Làm Bánh Pate Chaud Ngon Ngất Ngây
  • Cách Làm Bánh Phu Thê Truyền Thống Huế Chi Tiết A
  • Bài làm

    Chúng ta như biết được rằng, cùng với các món truyền thống như gà luộc, giò lụa hay bánh chưng, hay đó là những chiếc bánh tét thì đĩa xôi gấc được xem là món không thể thiếu trong mâm cỗ ngày tết truyền thống của người Việt Nam từ xưa cho đến nay.

    Người Việt ta hay nói rộng hơn đó chính là những người phương Đông thì dường như cũng vẫn quan niệm rằng màu đỏ là màu của hạnh phúc. Hơn nữa ta như biết được rằng chính sắc màu thắm của sắc xuân, là biểu tượng cho sự may mắn và cũng chính là sự tốt lành. Hơn nữa, ta cũng có thể nhận thấy được rằng chính màu đỏ của gấc là màu tự nhiên của đất trời, màu đỏ này dường như cũng đã mang đến nên sẽ tạo ra sự dung hòa, thuận lợi cho năm mới an khang hơn, nhiều may mắn cũng như hạnh phúc hơn biết bao nhiêu.

    Đặc biệt hơn nếu như ta chú ý thì cứ vào bữa cơm tất niên hay trên mâm cỗ cúng gia tiên ngày đầu năm mới của dân ta thì người Việt thường chuẩn bị thêm một đĩa xôi gấc. Đĩa xôi gấc nó dường như cũng đã tượng trưng cho một niềm tin sẽ được nhiều lộc, nhiều may mắn trong cả năm sắp tới này. Xôi gấc có màu đỏ – đó cũng chính là một điều cực may mắn cho những thành viên trong gia đình theo quan niệm của ông cha ta. Và chho dù bạn không tin lắm thì cũng không thể phủ nhận được màu đỏ luôn là một trong những màu nổi trội, đẹp mắt và mang đến điều tốt lành cho chúng ta.

    Thật dễ có thể nhận thấy được chính đĩa xôi gấc là món không thể thiếu trong mâm cỗ tết Việt từ trước cho đến nay. Thực sự thì cũng đã có rất nhiều loại xôi được người Việt chế biến khác nhau để dâng lên mâm cỗ cúng gia tiên. Ta như thấy được từ những món xôi được bày bán phổ biến mỗi sáng như xôi xéo, xôi lạc, xôi khúc, hay những đĩa xôi đậu xanh đến những thứ xôi chỉ được nấu vào mỗi dịp ngày giỗ, ngày lễ truyền thống như xôi ngũ sắc, xôi thập cẩm… Thế nhưng, ta cũng phải bất ngờ khi biết được rằng cũng chỉ có xôi gấc là trở thành một món truyền thống trong mâm cỗ tết Việt Nam mà thôi.

    Cứ vào mỗi phiên chợ giáp tết, dù ở quê nghèo hay trên thành phố sầm uất giàu sang. Và ta như nhận thấy được cũng chính ngay trong sự bận bịu sắm tết hay trang hoàng nhà cửa thì người ta vẫn cố tìm mua một vài quả gấc đỏ tươi rồi thổi một vài đĩa xôi gấc đỏ thắm vừa thơm lại vừa ngon miệng biết bao nhiêu!

    Xôi gấc được người Việt nấu luôn luôn lại có được vị dẻo thơm của những hạt lúa nếp, và những hạt xôi này lại có màu đỏ tươi tắn, còn chứa đựng đủ vị bùi, béo, ngậy… Tất cả những mùi, hương vị này như cũng rất đặc trưng từ quả gấc. Món xôi này không chỉ mang đến vị lạ, đặc biệt nó dường như cũng rất ngon trong ngày tết mà còn gửi gắm một giá trị tinh thần cho ngày tết truyền thống Việt Nam.

    Ngoài ra, ta cũng dễ nhận thấy được rằng, cứ trong ngày tết cổ truyền, người Việt còn sử dụng mứt gấc hay dùng quả gấc để gói bánh chưng… Tất cả dường như cũng đã muốn tạo được màu đỏ cho sự may mắn trong năm mới.

    Xôi gấc được biết đến cũng chính là thức ăn trong dịp lễ tết nên món xôi gấc thường được chuẩn bị rất công phu. Thật dễ có thể nhận thấy được rằng, cũng chính từ việc lựa gấc làm sao cho đỏ, thơm và ngon nhất đến việc đồ xôi, đơm xôi và đặt lên ban thờ như thế nào… dường như ta thấy được tất cả đều được các bà, các mẹ làm kỹ lưỡng, cầu kỳ biết bao nhiêu,

    Xôi gấc là một loại xôi dễ ăn, màu sắc đẹp và nó thực sự trở thành một trong những loại xôi truyền thống của dân tộc Việt Nam ta từ ngàn đời nay.

    Minh Nguyệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Món Xôi Gấc
  • Quán Mì Hoành Thánh Ngon Ở Sài Gòn
  • Cách Làm Mỳ Spaghetti Vừa Ngon Vừa Nhanh Đúng Vị Ý
  • Cách Xào Mì Tôm Trứng, Thịt Bò Cực Giòn Ngon Mà Đơn Giản
  • Người Người Xếp Hàng Đợi Ăn Tô Mì Vịt Tiềm 90.000 Đồng Ở Thị Nghè
  • Thuyết Minh Về Món Xôi Gấc

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Xôi Gấc
  • Độc Đáo Bún Bò Cơm Nguội Xứ Huế, Vừa Quen Vừa Lạ Lê Uyên
  • Độc Đáo Bún Bò Cơm Nguội Xứ Huế, Vừa Quen Vừa Lạ
  • Cách Nấu Chè Khoai Môn Với Nếp Nhanh
  • Cách Làm Bánh Pate Chaud Ngon Ngất Ngây
  • Đề bài: Em hãy thuyết minh về món xôi gấc.

    Bài làm

    Tuy xôi gấc là một món ăn dân dã nhưng có vị trí không nhỏ với con người Việt Nam. Nhắc đến xôi gấc, tôi tin rằng không ai là chưa từng ăn, không ai không biết nó.

    Xôi là một trong những món ăn quen thuộc của người dân Việt Nam. Từ xưa, con người đã nấu gạo nếp lên thành món xôi như một kết tinh tinh túy nhất của thiên nhiên để dâng lên thần linh, cầu mong “mưa thuận gió hòa”, con người an tâm sản xuất. Theo sự phát triển xôi ngày càng đa dạng và được kết hợp với nhiều loại nguyên liệu khác để hấp dẫn và bổ dưỡng hơn. Việt Nam có rất nhiều các loại xôi với những mùi vị đặc trưng riêng như xôi dừa, xôi ruốc, xôi vừng, xôi đỗ, xôi lạc, xôi voc, xôi đậu đen… Trong đó, xôi gấc mang một ý nghĩa quan trọng và là món ăn rất bổ dưỡng.

    Xôi gấc là một loại xôi thuộc các món xôi, có màu đỏ đặc trưng của gấc. Xôi gấc được dùng nhiều và gần như không thể thiếu trong các ngày lễ Tết cổ truyền, lễ cưới hỏi ở Việt Nam. Bởi người Việt Nam quan niệm xôi gấc có thể đem đến may mắn. Ngoài ra, thường ngày xôi gấc cũng là bữa ăn sáng của nhiều người, nhất là học sinh.

    Khi làm xôi gấc, nó cũng có những yêu cầu khắt khe trong lựa chọn nguyên liệu và cách chế biến. Xôi gấc gồm hai thành phần chính là gạo nếp và gấc. Ngoài ra, xôi gấc cũng cần thêm một số loại gia vị khác. Gạo nếp đồ xôi thường là nếp cái mới thu hoạch, thơm, mẩy, chắc hạt. Gấc càng chín đỏ sẽ cho màu xôi càng đẹp. Đầu tiên, gấc bổ đôi, vỏ vỏ, lấy phần ruột lẫn hạt, trộn cùng ít rượu trắng vào đánh nhuyễn. Gạo nếp cái vo sạch, ngâm qua đêm từ trước. Tiếp tục, trộn gạo nếp với gấc, đổ vào trong chõ rồi đặt trên bếp. Có thể thêm vài hạt muối và chút nước cốt dừa, vài sợi dừa tươi cho xôi thơm dẻo, đậm đà hơn. Cứ đun đều lửa đến khi nào gấc chuyển màu đỏ thẫm tức là xôi đã chín. Xôi chin thông thường có hai lựa chọn, hoặc là làm xôi mặn hoặc là làm xôi ngọt. Xôi mặn sẽ rắc ruốc lên trên mặt xôi. Xôi ngọt thường kèm thêm đỗ và trộn thêm chút đường. Xôi được đóng vào các khuôn rồi trình bày lên đĩa. Một đĩa xôi gấc đạt chuẩn là xôi phải chín dẻo, thơm mùi gấc, ngậy mùi dừa, bóng đều. Xôi gấc dùng chung với chả, giò rất ngon.

    Xôi gấc là món ăn bổ dưỡng, thanh sạch. Xôi gấc ngoài việc cung cấp năng lượng cho hoạt động sống hằng ngày còn chứa nhiều vitamin tốt cho sức khỏe, đặc biệt là vitamin A từ gấc bổ mắt, bổ não. Xôi gấc cũng có tác dụng làm đẹp da, giúp da mịn màng, trắng sáng. Những ngày đông giá, được ăn miếng xôi gấc nóng giúp làm ấm cơ thể, tăng sức đề kháng. Thành phần từ quả gấc trong xôi gấc còn giúp nhuận tràng, giảm nguy cơ ung thư và đặc biệt tốt cho tim mạch.

    Xôi gấc xứng đáng là một nét văn hóa tinh hoa trong ẩm thực của người Việt. Bởi xôi không chỉ mang trong mình lịch sử khai phá, chinh phục tự nhiên của con người mà nó còn là nét đẹp tô điểm cho đất nước Việt Nam hôm nay. Trên những con đường, những vỉa hè dài nơi góc phố cổ Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh vẫn có hình ảnh các bà, các mẹ gồng gánh thúng xôi đỏ. Hương thơm của gấc, cái dậy mùi của nếp nương, nếp cái mới thu hoạch thu hút khứu giác của bất kì ai mỗi khi qua những nơi ấy. Ai có thể cưỡng nổi “cơn thèm” một miếng xôi nóng trong tiết thu se lạnh của đất trời, phố xá? Du khách từ khắp nơi về phố cổ Hà Nội có ai không thưởng thức xôi gấc một lần để rồi còn vương vấn mãi. Rời Việt Nam, du khách còn ngoái lại cảm nhận lần nữa món xôi bằng tâm tưởng. Người con xa quê, đi nước ngoài lam việc, du học… mỗi Tết xa nhà lại không mong nhớ đĩa xôi nếp đỏ thắm ư?

    Từ trẻ nhỏ đến người lớn, từ học sinh đến người đi làm, từ thành thị tới những miền quê xa xôi… bao thế hệ đó đã gắn bó với món xôi gấc truyền thống của dân tộc.

    Hoài Lê

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quán Mì Hoành Thánh Ngon Ở Sài Gòn
  • Cách Làm Mỳ Spaghetti Vừa Ngon Vừa Nhanh Đúng Vị Ý
  • Cách Xào Mì Tôm Trứng, Thịt Bò Cực Giòn Ngon Mà Đơn Giản
  • Người Người Xếp Hàng Đợi Ăn Tô Mì Vịt Tiềm 90.000 Đồng Ở Thị Nghè
  • Suon Dai Han Nuong Korean Bbq Uyen Thy S Cooking Aivan
  • Thuyết Minh Về Bánh Chưng

    --- Bài mới hơn ---

  • Ẩm Thực Ngày Lễ Tết Của Người Tây Nguyên
  • Các Món Ăn Ý Nghĩa Trong Ngày Tết Cổ Truyền
  • 7 Món Ăn Ngày Tết Ở Hàn Quốc Không Thể Thiếu
  • Món Ăn Ngày Tết Ở Nhật
  • Món Ăn Ngày Lễ Tết Của Người Tây Nguyên
  • THUYẾT MINH VỀ BÁNH CHƯNG

    Mỗi dịp Tết đến, xuân về, trong mỗi gia đình lại nghi ngút biết bao món ngon mang hương vị đặc trưng. Nào là bánh mứt, dưa hành, củ kiệu, thịt kho,…và chắc hẳn, bánh chưng cũng không phải là món ăn ngoại lệ. Mỗi khi hoa mai hoa đào khoe sắc, các bà các mẹ lại tất bật gói những chiếc bánh chưng vuông vức, tạo nên một hình ảnh rất đỗi quen thuộc mà vô cùng thiêng liêng.

    Về nguyên liệu để gói bánh chưng thì khá đơn giản và dễ chuẩn bị, chỉ cần có nếp làm vỏ bánh, thịt và đậu xanh làm nhân, thêm các gia vị cần thiết và cuối cùng là phần lá dong dùng để gói bánh. Nếp được lựa chọn phải là những hạt tròn mịn, không bị sứt mẻ và phải là màu trắng đục chứ không được ngả vàng, tức là những hạt bị mốc sẽ bị loại bỏ. Phần nguyên liệu này sẽ được ngâm trong nước vài ngày giúp sạch phần bụi bẩn để khi nấu lên có mùi thơm lừng của hương nếp. Phần đậu xanh làm nhân cũng vậy, những hạt đậu vàng ươm được lựa chọn kĩ càng sẽ được rửa sạch, nấu nhừ và giã nhuyễn tạo thành một hỗn hợp mịn màng tỏa hương nhè nhẹ. Phần thịt bên trong có thể là thịt nạc hoặc thịt ba rọi, cắt nhỏ thành từng miếng vừa ăn, ướp thêm tiêu xay, hành băm nhuyễn, thêm chút muối, đường, bột ngọt,…cho đậm đà. Đây cũng chính là phần ngon nhất của chiếc bánh chưng mà khi ăn vào sẽ cảm thấy thích thú và ngon miệng vô cùng.

    Nguyên liệu để tạo thành một chiếc bánh chưng hoàn thiện không dừng lại ở đó mà phần lá gói cũng rất quan trọng. Loại lá thường được chọn để gói bánh chưng là lá dong, đó phải là những chiếc lá còn xanh, không héo và không bị rách quá nhiều. Một số vùng miền lại thay lá dong bằng lá chuối nhưng nếu so về độ đẹp mắt và thơm ngon khi hấp bánh thì lá dong lại chiếm ưu thế hơn. Sau khi cắt lá dong về, chúng sẽ được rửa sạch và lau khô, vừa giúp cho việc gói bánh được dễ dàng, vừa đảm bảo có một món bánh thơm ngon và sạch sẽ.

    Bánh chưng là loại bánh khá đơn giản trong việc gói nhưng để tạo thành hình dáng vuông vức, đẹp đẽ thì yêu cầu người gói phải có kinh nghiệm, sự tỉ mẩn và cẩn thận nhất định. Phần nếp sẽ được trải đều trên những chiếc lá dong được xếp gọn gẽ để làm vỏ, tiếp đó trải thêm lớp đậu xanh được giã nhuyễn và cuối cùng, ở chính giữa chiếc bánh là một miếng thịt đầy đặn. Sau đó, những bàn tay khéo léo của bà, của mẹ sẽ bẻ bốn góc lá dong lại tạo thành một hình vuông trông khá bắt mắt và cuối cùng được cố định lại bằng dây lạt hay dây chuối.

    Sau khi đã gói những chiếc bánh chưng vuông vức và chắn chắn là một công đoạn mang đậm không khí ngày tết: nấu bánh chưng. Thường bánh chưng sẽ được xếp vào một nồi to đổ ngập nước, nấu trên bếp củi trong khoảng thời gian từ tám đến mười hai tiếng đồng hồ. Vừa thổi lửa phù phù trong đêm se se lạnh, cả gia đình lại cùng nhau vây quần bên bếp lửa ấm trò chuyện chính là thời khắc mà không ai có thể quên được. Khi nước đã sôi, bánh đã chín, hơi bánh bốc lên nghi ngút, mùi lá, mùi nếp, mùi đậu quyện vào nhau thơm ngào ngạt. Đó chính là lúc không khí của Tết như bao trùm cả căn nhà.

    Trên bàn thờ ông bà, tổ tiên luôn được đặt trang trọng một cặp bánh chưng đẹp nhất như là một nét văn hóa không thể nào thay thế. Bữa cơm gia đình ngày đầu năm cũng được góp mặt bởi những đĩa bánh chưng ngon lành, là món ăn mà ai cũng đều yêu thích.

    Ngày nay, khi những món ăn nhanh, những món quà bánh tiện lợi được ưa chuộng hơn trong các dịp tết thì việc gói bánh chưng đã không còn được duy trì ở một số gia đình. Tuy nhiên, những chiếc bánh chưng ngon lành, vuông vức tượng trưng cho một năm mới sung túc, viên mãn luôn là một món ăn không thể thiếu trong những ngày đầu năm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Bánh Chưng Ngày Tết Lớp 9, 10 Hay
  • Bắp Bò Ngâm Xì Dầu Và Những Món Ăn Lạ Miệng Ngày Tết
  • Các Món Ăn Ngày Tết Độc Đáo Của Ba Miền
  • 22 Món Ăn Đặc Sản Thái Lan Làm Quà Không Thể Bỏ Qua
  • Những Món Ăn Đặc Trưng Trong Ngày Tết Songkran Ở Thái Lan
  • Thuyết Minh Về Món Bánh Xèo

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Đặt Xôi Nếp Cẩm Cho Tiệc Đầy Tháng, Thôi Nôi
  • Bep Nha Ta Nau Xoi Vo Che Hoa Cau Uyen Thy
  • 2 Cách Làm Bánh Bò Thốt Nốt (Nướng & Áp Chảo)
  • 103 Giọng Hát Ca Sỹ Hải Ngoại Được Mếm Mộ
  • Ca Sĩ Hứa Nhật Khánh Uyên
  • Đề bài: Anh chị hãy thuyết minh về món bánh xèo

    Bánh xèo là một loại bánh Việt Nam, có bột bên ngoài, bên trong có nhân là tôm, thịt, giá đỗ, được rán màu vàng, nặn hình tròn hoặc bán nguyệt. Tuỳ theo từng địa phương tại Việt Nam mà bánh được thưởng thức với nét đặc trưng riêng. Thường có 2 phong cách: đổ bánh xèo giòn và bánh xèo dai.

    Cách làm bánh: Đầu tiên, đậu xanh ngâm nước nóng ấm khoảng 1 tiếng cho bóc vỏ. Đãi vỏ sạch, hấp/luộc chín sao cho đậu vẫn còn nguyên dạng hạt, không bị bể. Giá rửa sạch để ráo. Hành lá rửa sạch cắt nhỏ.

    Tôm lột vỏ, làm sạch đường chỉ. Ướp tôm thịt với một tí xíu muối, tiêu, tỏi ép nhỏ khoảng nửa tiếng cho ngấm gia vị. Cho bột gạo, bột bắp, muối, bột nghệ và nước soda vào trộn đều. Cho hành lá vào. Bỏ hỗn hợp vào tủ lạnh khoảng nửa tiếng trước khi làm.

    Cách chiên bánh cũng phải tài tình mới ngon: Chảo nóng, cho một ít dầu vào. Dầu nóng, cho ít lát thịt heo và vài ba con tôm vào xào chín tái, thơm. Dùng vá tròn to( loại múc canh) múc một vá hỗn hợp bột bánh xèo (4) đổ tròn vào chảo. Vừa đổ vừa quay cán chảo cho bột chạy dàn đều một lớp mỏng khắp đáy chảo.

    Rắc một ít đậu xanh đều lên bề mặt, cho giá vào phần nửa cái bánh. Đậy nắp lại, đợi khoảng 2~3 phút cho bánh chín vàng. Dùng vá dẹp bẻ gập bánh lại làm đôi. Lấy bánh ra.Cứ thế lập lại cho đến khi hết bột và tôm thịt rau.

    Cách thưởng thức bánh: Khi ăn cuốn với rau sà lách hoặc cải cay và rau thơm, chấm với nước mắm pha chua ngọt. Pha nước chấm bánh xèo sao cho có đủ vị ngọt-chua-cay nhưng rất nhạt, nhạt đến độ có thể húp chén mắm như canh vậy. Tham khảo cách pha nước chấm ở đây. Tuy nhiên, phải gia giảm đường-nước và nước mắm sao cho thoả điều kiện trên. Mình thường pha theo tỉ lệ gồm: 2 phần đường, 1 phần mắm và 4 phần nước.

    Điều mang đến cho mọi người cảm giác thích thú và muốn thưởng thức món ăn này chính là vị ngọt thanh của chén nước mắm chấm bánh xèo lấy từ nước dừa tươi và đường (nếu không có dừa tươi thì dùng nước dừa tươi đóng lon/ hoặc không nữa thì phải dùng đường thay thế)- chua của chanh hoặc dấm -cay của ớt- thơm của tỏi. Nếu không có nước dừa thì phải dùng nước nấu sôi để nguội cũng được nhưng dĩ nhiên là chất lượng sẽ thay đổi.

    Nếu có dịp, bạn hãy thưởng thức món ăn tuyệt vời này một lần trong đời. Nó không chỉ đơn giản là món ăn dân dã, món ăn hè phố. Mà hơn nữa, đó chính là ẩm thực, là văn hóa của người Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quà Tặng 20/10: Cupcake Trà Xanh Và Kem Cream Cheese
  • Đạo Diễn Đinh Hà Uyên Thư
  • Gia Sư Luyện Thi Đại Học
  • Cách Ướp Thịt Nướng Kiểu Hàn (Thit Heo)
  • Cách Làm Bánh Kem Tiramisu “baby”
  • Thuyết Minh Về Cách Làm Bánh Chưng Ngày Tết

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Về Chiếc Bánh Chưng Ngày Tết.
  • Giới Thiệu Về Chiếc Bánh Chưng Ngày Tết
  • Món Ăn Ngày Tết: Món Ăn Ngày Tết Ba Miền
  • Ý Nghĩa Các Món Ăn Trên Mâm Cỗ Ngày Tết
  • Tìm Hiểu Những Món Ăn Cổ Truyền Ngày Tết Miền Bắc
  • Trình bày về cách làm bánh chưng cổ truyền của dân tộc bằng một bài văn thuyết minh tự làm. Loigiaihay Net đã có sưu tầm hướng dẫn giúp các em thực hiện bài tập làm văn đạt điểm khá, giỏi.

    Bài văn thuyết minh về cách làm bánh chưng

    I. MỞ BÀI

    Giới thiệu chung về bánh chưng.

    Ví dụ: bánh chưng là loại bánh cổ truyền, quan trọng trong ẩm thực nước ta, loại bánh không thiếu trong Tết cổ truyền…

    II. THÂN BÀI Nguồn gốc bánh chưng

    – Chiếc bánh chưng ra đời gắn với Lang Liêu, vị hoàng từ thời vua Hùng Vương thứ 6.

    – Bắt đầu từ đây, bánh chưng được gìn giữ và lưu truyền trong dân gian đến ngày nay.

    Đặc điểm bánh chưng

    – Bánh chưng có hình vuông.

    – Bọc bên ngoài bằng lá màu xanh.

    – Đường lạt màu trắng.

    Nguyên liệu

    – Gói bên ngoài: lá dong, lạt buộc thường là lạt giang.

    – Vỏ bánh: gạo nếp, (nếp cái hoa vàng, nếp nương).

    – Nhân bánh: đỗ (đậu) xanh, thịt lợn.

    – Gia vị: muối, hạt tiêu, thảo quả.

    – Phụ gia tạo màu.

    Quy trình làm bánh chưng

    Có hai cách gói bánh chưng: gói bằng tay không và gói bằng khuôn hình vuông.

    – Rải lạt xuống mâm hình chữ thập.

    – Xúc gạo nếp vào giữa khuôn lá, dùng tay hoặc dụng cụ gạt đều theo hình vuông khuôn.

    – Rải đều đậu xanh lên phía trên lớp gạo nếp.

    – Đặt thịt lớn được thái nhỏ vào chính giữa làm nhân bánh.

    – Bọc lá lại và buộc lạt phía ngoài để cố định bánh.

    – Luộc bánh cùng với nồi to, dày dung tích nước trên 100 lít. Luộc bánh và giữ nước sôi trong nồi từ 8 đến 10 giờ liên tục.

    – Sau khi luộc, vớt bánh ra rửa sạch lá trong nước lạnh. Xếp bánh dùng vật nặng đè lên bánh để ép nước ra. Sau khi ép bánh, hãy treo lên chỗ khô ráo, tránh ẩm ướt.

    – Nếu bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát bánh có thể giữ trong nhiều tuần.

    – Bánh chưng là loại bánh truyền thống ngày Tết người Việt.

    – Bánh chưng là một phần ẩm thực Việt từ xưa đến nay, tượng trưng cho sự sinh sôi, phát triển của vạn vật.

    – Ca ngợi giá trị của hạt gạo và nền văn minh lúa nước.

    III. KẾT BÀI

    Nêu lên giá trị, vai trò và sự quan trọng của bánh chưng trong ẩm thực Việt và nền văn minh lúa nước.

    Bánh chưng là món ăn dân tộc mà ngày Tết gia đình nào cũng có để thờ cúng tổ tiên, sau đó là ăn trong dịp Tết. Với nhiều người dân, bánh chưng là biểu tượng của sự sum vầy, đầy đủ trong năm mới. Đây cũng là món ăn có bề dày lịch sử lâu đời trong ẩm thực nước nhà.

    Theo lịch sử ghi chép lại bánh chưng ra đời thời vua Hùng thứ 6. Sau khi đánh dẹp giặc ngoại xâm nhà vua yêu cầu các hoàng tử, quan lại hãy dâng lên vua cha thứ quí nhất để cúng lên bàn thờ tổ tiên. Lang Liêu trăn trở chưa tìm được thứ gì quý giá dâng lên vua, khi nằm mơ chàng thấy vị thần đến chỉ cho cách làm một loại bánh từ lúa gạo và những nguyên liệu có sẵn gần gũi với người nông dân, quả thực thứ bánh đó làm vua cha rất hài lòng. Bánh chưng bánh dày ra đời từ đó và được lưu truyền đến ngày nay.

    Dù cách xa nhiều thế hệ nhưng cách làm bánh chưng truyền thống vẫn không có nhiều sự thay đổi. Nguyên liệu chủ yếu là nếp, lá dong, thịt, đậu xanh đã được giã nhỏ. Nếp khi mua phải chọn những hạt tròn, không bị mốc khi nấu lên sẽ có mùi thơm. Đậu xanh phải là loại đậu có màu vàng, đậu xanh sẽ được sử dụng làm nhân bánh. Phần thịt cũng làm nhân nên cần phải chọn thật tỉ mỉ, thông thường sẽ mua thịt ba chỉ hoặc thịt nạc, trộn với tiêu xay, hành băm nhuyễn. Phần cuối cùng đó là mua lá dong gói bên ngoài tạo nên sự thẩm mỹ cho chiếc bánh chưng. Lá dong phải còn tươi, có gân, màu xanh đậm. Khi mua lá dong về phải rửa bằng nước, cắt phần cuống.

    Khi mua xong các nguyên liệu cần thiết, bắt tay vào gói bánh chưng. Công đoạn này yêu cầu người làm phải khéo léo, cẩn thận mới tạo nên chiếc bánh chưng đẹp. Thông thường gấp 4 góc của chiếc lá dong lại là có thể gói được. Bao bọc xung quanh là phần nhân đậu và thịt là một lớp nếp dày. Người làm phải chuẩn bị dây để gói, cố định phần ruột bên trọng được chắc chắn khi đó nấu bánh sẽ thuận lợi.

    Sau quá trình gói bánh người thực hiện chuyển sang nấu bánh, nấu bánh chưng với ngọn lửa từ củi khô, cho bánh vào trong một nồi lớn, đổ đầy nước và nấu liên tục trong thời gian từ 8-12 tiếng. Khi nấu đủ thời gian trên bánh sẽ dẻo, ngon hơn.

    Bánh chưng không chỉ là món ăn dân tộc mà còn mang biểu tượng may mắn, sum vầy trong năm mới. Dịp Tết có những chiếc bánh chưng trên bàn thờ tổ tiên là cách để tỏ lòng tôn kính, biết ơn với thế hệ trước. Bánh chưng còn dùng làm quà biếu cho người thân, bạn bè.

    Một số đoạn văn thuyết minh về bánh chưng

    Đoạn văn thuyết minh về cảnh gói bánh chưng

    Bánh chưng nếu mỗi ai ăn thì không thể quên hương vị của nó, bởi vị đặc trưng của nó. Nhìn có vẻ đơn giản nhưng để làm ra được một chiếc bánh chưng vuông vắn và thơm ngon thì người làm cũng tốn biết bao công sức. Tất cả từ khâu chọn nguyên liệu đến luộc bánh và vớt, bảo quản bánh cũng phải làm kĩ lưỡng. Không kể đến công nghiệp gói bánh chưng ngày nay, thì đối với mỗi tuổi thơ của chúng ta không thể nào quên hình ảnh cả gia đình quây quần gói bánh ngày Tết. Hình ảnh đó thật ấm cúng làm sao. Các bà, các mẹ sẽ đi chợ từ sớm để mua những bó lá dong. Cách chọn lá dong gói bánh là những lá to, mịn, xanh mướt và không rách. Sau đó sẽ rửa sạch với nước và cắt tỉa phù hợp để gói bánh. Nguyên liệu gói bao gồm gạo nếp, thịt lợn, nhân đậu xanh, hạt tiêu, hành…Sau khi chuẩn bị xong đến công đoạn gói bánh. Thường người ta sẽ dùng khuôn gỗ sẵn cho chiếc bánh được vuông vắn, đẹp đẽ. Xếp lá vào khuôn xong đổ một bát gạo, xếp hai miếng thịt, tiếp đến là nửa bát đỗ và thêm một bát gạo nữa. Như vậy là xong một chiếc bánh, người gói bắt đầu buộc lạt để hoàn thành nốt. Cứ tiếp như vậy những chiếc bánh vuông vắn dần được hoàn thành chờ xếp vào nồi để luộc. Để luộc bánh, người ta xếp những lá cắt dở và hỏng xuống đáy nồi rồi mới xếp bánh vào, đổ nước và bắt đầu luộc. Luộc bánh phải dùng bếp củi và thường xuyên đổ nước để không bị cháy, bánh mới ngon. Khi vớt, dùng mâm hoặc rổ vớt bánh để ráo nước và nguội mới được bỏ tủ lạnh.

    Đoạn văn về ý nghĩa của bánh chưng

    Bánh chưng là một loại bánh quen thuộc của người dân Việt Nam vào mỗi dịp Tết cổ truyền. Nó mang một ý nghĩa vô cùng đặc biệt. Theo Truyền thuyết vua Hùng thì đó là của “ngọc thực” mà Lang Liêu dâng tiến vua. Cho đến ngày nay, nó mãi là món ăn cúng giỗ ông bà vào mỗi dịp Tết. Nó đã đi vào đời sống tâm linh và ẩm thực Việt một cách tự nhiên nhất. Cho đến ngày nay, sự thay đổi của cuộc sống có quá nhiều đồ ăn vật lạ. Nhưng dường như chiếc bánh chưng giản dị ấy vẫn là thứ của ăn ngon lành và không thể thiếu của mỗi chúng ta. Vào chiều 30 Tết, nhà nhà đều quây quần để tự gói những chiếc bánh đẹp đẽ và ngon lành để dâng lên cúng ông bà tổ tiên, như minh chứng cho lòng thành vậy. Và nét đẹp sẽ mãi được lưu giữ cho đến mai sau.

    ” Thuyết minh về cách làm diều

    ” Thuyết minh về bánh chưng.

    Từ khóa tìm kiếm:

    • dàn ý thuyết minh về cách làm bánh chưng
    • thuyết minh về cách làm bánh chưng ngắn gọn
    • giới thiệu về bánh chưng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Món Ăn Ngày Tết Ở Nhật Bản
  • 7 Món Ăn Ngày Tết Đài Loan Mang Lại Sự May Mắn, Sung Túc Cả Năm
  • Những Món Ăn Ngày Tết Mang Lại May Mắn Ở Các Nước Châu Á
  • Những Món Ăn Mang Lại May Mắn Ngày Tết Của Người Việt
  • Những Món Ăn Ngày Tết Mang Lại May Mắn Của Các Quốc Gia Châu Á
  • Thuyết Minh Về Món Thịt Kho Tàu

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Món Ăn Truyền Thống Trong Ngày Tết Của Các Nước Đông Nam Á
  • 7 Món Ngon Đặc Trưng Cho Văn Hóa Ẩm Thực Lào
  • Những Món Ăn Đặc Trưng Trong Ngày Tết Songkran Ở Thái Lan
  • 22 Món Ăn Đặc Sản Thái Lan Làm Quà Không Thể Bỏ Qua
  • Các Món Ăn Ngày Tết Độc Đáo Của Ba Miền
  • Thịt kho tàu đã trở thành một trong những món ăn không thể thiếu trong bữa cơm ngày tết của người miền Tây nói riêng và Nam bộ nói chung. Dường như đã thành thông lệ cứ đến gần tết người dân Nam bộ lại rủ nhau làm món thịt kho tàu để ăn tết như một phần tất yếu.

    Nghe qua cái tên của món ăn là thịt kho tàu rất nhiều người sẽ nghĩ đây là món ăn được bắt nguồn từ Trung Hoa, tuy nhiên theo nhiều người Nam bộ xưa kể lại thì chữ “tàu”, ở đây, theo nghĩa của người “miền dưới” là “lạt”, như sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ là hai con sông nước lợ. Như vậy thịt kho tàu không phải là thịt kho của người Trung Hoa, mà chỉ đơn giản là món thịt kho lạt. Cũng có một số giả thuyết khác đặt ra về nguồn gốc của món ăn này tuy nhiên đến nay cũng chưa rõ đâu là giả thuyết đúng nhất.

    Miếng thịt mềm rục có cả màu đỏ au của thịt nạc, trong trong của mỡ, nâu nâu của bì hầm nhừ, sóng sánh vàng ươm của nước màu chưng đường, kèm vị bùi của nước dừa xiêm, vị mặn của nước mắm đã được làm thanh đi bằng đường, thi thoảng có thêm vị hắc của chút xì dầu, điểm xuyết thêm mấy hột vịt luộc mà nước thịt ngấm đều từ trong lòng đỏ đến lòng trắng. Tất cả đã làm nên hương vị tuyệt vời của món thịt kho tàu.

    Có thể nói thịt kho tàu hiện nay đã trở thành món ăn thường xuyên xuất hiện trong bữa ăn của nhiều người Việt Nam trên cả nước bởi sức hấp dẫn mà món ăn này mang lại. Cách chế biến không quá khó, các bạn hoàn toàn có thể thử qua để mang đến bữa ăn ấm áp cho gia đình mình sau một ngày làm việc mệt mỏi. Thịt kho tàu món ngon khó chối từ và dường như nó đã trở thành một phần văn hóa ẩm thực của người Nam bộ khi đi so sánh với các vùng miền khác trong cả nước.

    Hy vọng đây sẽ là lựa chọn hàng đầu của các bạn mỗi khi tự tay nấu món ăn cho gia đình trong mỗi bữa tối. Thịt kho tàu món ngon đúng vị không thể chối từ.

    Thuyết minh về món thịt kho tàu – Bài làm 2

    Rất nhiều người Việt nghe nói đến kho tàu” thì đều nghĩ, món ăn này được bắt nguồn từ Trung Quốc. Tuy nhiên người Hoa lại rất ít người ăn món này. Theo nhà văn người nam bộ Bình Nguyên Lộc, chữ “tàu”, ở đây, theo nghĩa của người “miền dưới” là “lạt”, như sông Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ là hai con sông nước lợ. Như vậy thịt kho tàu không phải là thịt kho của người Trung Hoa, mà chỉ đơn giản là món thịt kho lạt.

    Cũng có thuyết rằng, món thịt kho bên Tàu từ cái ông tể tướng Vương An Thạch đời Tống nghĩ ra, nhưng xem lại thì cái món thịt kho của ông, chẳng giống gì cái cách mà chúng ta thấy ở miếng thịt kho tàu xứ Việt. Vậy hóa ra cái món thịt kho mà được cả miền Nam hâm mộ ấy, đúng như lời giáo sư Trần Văn Khê nói: món thịt kho “tàu” hóa ra lại là “ta” hoàn toàn, món Việt trăm phần trăm.

    Thịt kho tàu, cùng với bánh tét, dưa hấu, canh khổ qua dồn thịt, đã trở thành món không thể thiếu trong thực đơn ngày Tết của người Nam Bộ. Miếng thịt mềm rục có cả màu đỏ au của thịt nạc, trong trong của mỡ, nâu nâu của bì hầm nhừ, sóng sánh vàng ươm của nước màu chưng đường, kèm vị bùi của nước dừa xiêm, vị mặn của nước mắm đã được làm thanh đi bằng đường, thi thoảng có thêm vị hắc của chút xì dầu, điểm xuyết thêm mấy hột vịt luộc mà nước thịt ngấm đều từ trong lòng đỏ đến lòng trắng, đặt cạnh bát cơm trắng thơm nức trên bàn thờ ông bà, bên cạnh đĩa dưa chua, dường như đã thành truyền thống trong mâm cơm cúng tưởng nhớ ông bà tổ tiên.

    Thịt kho tàu cũng như bao món kho khác, được nấu như món ăn để lưu trữ dài ngày vào dịp Tết. Nấu thịt kho tàu không khó, nhưng để nấu ngon, cũng không dễ chút nào. Miếng thịt mềm nhừ mà không nát, không bị quắt lại, màu thịt đỏ au ánh lên màu cánh gián, trứng vịt thấm đẫm nước thịt mà không đen, nước thịt vàng trong, không quá nhiều nước nhưng cũng không quá cạn làm khô miếng thịt. Mỗi lần ăn có thể mang ra đun lại, càng nhiều lửa, thịt càng rục, càng mềm, càng ngon. Thịt kho tàu có thể được ăn với nhiều món, cơm trắng, dưa kiệu, dưa giá nhưng có lẽ phổ biến nhất là ăn kèm với dưa cải chua. Có lẽ vì mặn, vị ngọt, vị bùi béo của thịt kho tàu kết hợp với vị chua xen lẫn cay cay của dưa cải muối xối, tạo nên hương vị quyến rũ đến bất ngờ.

    Thuyết minh về món thịt kho tàu – Bài làm 3

    “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

    Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.”

    Tết đến, Xuân sang cuốn theo bao hi vọng, niềm vui và hạnh phúc. Trong dịp Tết cổ truyền ấy, các món ăn như bánh chưng, bánh dày hay dưa món, củ kiệu,… là những món không thể thiếu. Một trong số những món ăn quen thuộc vào ngày Tết mà hầu như nhà nào cũng có chính là món thịt kho tàu.

    Nghe cái tên “thịt kho tàu”, chắc hẳn nhiều người nghĩ rằng món ăn này bắt nguồn từ Trung Quốc, là của người Tàu nhưng sự thật không phải vậy. Vì người Tàu rất ít khi ăn món này, mà nguyên liệu để làm món thịt kho tàu là thịt ba rọi, cái loại thịt có có nạc, có mỡ, có bì, xếp từng lớp khéo léo cứ như người ta cố tình tạo ra nó, thì chắc chắn chỉ có dân Việt Nam.

    Theo nhà văn Nam Bộ Bình Nguyên Lộc, chữ “tàu”, ở đây, theo nghĩa của người “miền dưới” là “lạt. Như vậy, thịt kho tàu không phải là thịt kho của người Trung Hoa, mà chỉ đơn giản là món thịt kho lạt và hoàn toàn là của người Việt nghĩ ra. Và giáo sư Trần Văn Khê đã nói: món thịt kho “tàu” hóa ra lại là “ta” hoàn toàn, món Việt trăm phần trăm.

    Nguyên liệu để làm món thịt kho tàu rất đơn giản: chỉ gồm có thịt ba rọi, trứng vịt, hành, tỏi và nước dừa xiêm cùng với các gia vị thông dụng. Nhưng phải biết cách chọn thực phẩm cũng như bí quyết nấu ăn thì mới có thể làm cho món ăn này trở nên ngon miệng, hấp dẫn.

    Muốn nấu món thịt kho tàu ngon thì nên lựa thịt ba rọi có 3 phần mỡ, 7 phần nạc và chọn thịt nạc thăng. Còn trứng thì tuyệt đối không mua trứng ung, bị ôi, thiu. Không nên chọn trứng có quầng đen ở đáy vì đó là trứng hư, bị lõm. Theo quan niệm, trứng trong món thịt kho tàu phải tròn, hông bị nứt nẻ thì công việc làm ăn mới thuận lợi, gặp nhiều may mắn.

    Khi đã chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu, ta bắt tay vào việc chế biến. Đầu tiên, thịt sau khi mua về thì cạo rửa sạch, để ráo nước. Sau đó cắt khúc, vuông khoảng 4-5cm, nêm nếm gia vị vừa ăn rồi để hai giờ cho thịt thấm đều. Sau đó, Phi hành, tỏi rồi xào thịt cho săn lại.

    Trứng vịt đem đi luộc chín. Lưu ý, khi luộc trứng nên cho vào nồi một ít muối ăn vì nó sẽ làm tróc vỏ trứng. Luộc xong để vào nước lạnh, trứng sẽ dễ dàng bóc vỏ và không bị nứt. Khi vừa cho vào nước lạnh, phải bóc vỏ liền, tuyệt đối không để trứng nguội đi rồi mới bóc vỏ.

    Sau khi bóc vỏ xong, lấy tăm đâm vào trứng rồi đem đi chiên qua dầu để có màu vàng đẹp, thoát hơi tốt. Ngoài ra, ta còn có thể thay thế trứng vịt bằng trứng cút.

    Thịt sau khi xào thăn, cho 1/2 thìa cà phê nước màu, 1/2 chén nước mắm. Nấu cho đến khi sôi lên thì đổ nước dừa xiêm vào ngang mặt thịt. Cuối cùng cho trứng vịt đã chiên vàng vào khi nước sôi và nấu cho sôi 2-3 lần.

    Ngoài ra, ta có thể thay thế nước dừa bằng nước ngọt có gas. Thịt nhanh mềm hơn và vàng óng rất đều, theo đúng màu cánh gián rất đẹp mắt. Món thịt kho tàu sau khi nấu chín thì toàn bộ trứng phải nổi lên mặt nước. Có màu vàng óng như màu mật ong. Trứng có màu đỏ au, trông đẹp mắt. Món ăn vừa miệng, không quá măn hoặc quá nhạt. Chú ý, nấu lần đầu tiên ta nên nêm nhạt vì khi hâm lại nhiều lần thì vị sẽ đậm đà, mặn mà hơn.

    Thưởng thức món thịt kho tàu có nhiều cách khác nhau. Nhưng phổ biến nhất là dùng với cơm. Chỉ cần bới một tô cơm nóng, chan một ít nước thịt, cắt trứng ra, bỏ thịt và trứng vào và dùng chung với dưa giá hoặc củ kiệu thì đã thưởng thức trọn vẹn hương vị của món thịt kho tàu.

    Cách thứ hai là ăn thịt kho tàu cùng với bánh tráng. Đây vừa là món ăn chơi, nhưng khi kèm với thịt kho tàu, nó trở thành món chính từ lúc nào. Miếng bánh tráng trụng qua nước, gói với rau thơm, đồ chua, kèm thịt và trứng đã cắt nhỏ. Rồi chấm một ít nước thịt thì còn gì ngon bằng.

    Đây là món ăn để lưu trữ nhiều ngày trong dịp Tết. Thế nên ta phải bảo quản nó đúng cách để luôn thưởng thức trọn hương vị của món ăn hấp dẫn này. Thường thì khi hết ngày, nhiều người cất nồi thịt vào tủ lạnh nhưng cách này sẽ làm dở nồi thịt. Ta chỉ cần để ở ngoài là được.

    Đặc biệt khi múc thịt, nên múc một bên và múc xong thì đậy nắp lại ngay tránh hôi gió. Nếu bỏ muỗng vào nồi hay quậy nồi thịt thì nó sẽ mau hư. Mỗi lần hâm lại thịt cần vớt cho sạch bọt. Khi nước cạn, ta cho thêm nước vào rồi nêm nếm lại cho vừa ăn. Như thế, ta đã có thể bảo quản tốt món thịt kho tàu và mỗi lần thưởng thức, hương vị của nó sẽ không hề giảm đi.

    Thịt kho Tàu là món ăn thân quen đối với người miền Nam ta. Trứng có hình tròn, thịt có hình vuông như sự hòa quyện giữa trời và đất làm hòa quyện không khí Tết, gắn bó với các thành viên trong gia đình từ bé đến lớn, khiến mọi người dễ dàng cảm nhận không khí hòa thuận, sum vầy. Đó cũng là dấu hiệu của một năm mới thuận lợi, thành công.

    Đây là món ăn truyền thống của người Việt Nam trong những ngày Tết. Cái hương vị mặn mặn, ngọt ngọt, vừa bùi vừa béo của thịt kho tàu đã làm xao xuyến biết bao người dân Việt. Nó trở thành một món ăn truyền thống, một nét đẹp văn hóa của dân tộc và đóng góp vào kho tàng ẩm thực phong phú của Việt Nam.

    Như các món ăn truyền thống khác, món thịt kho tàu không chỉ là một kiệt tác của những người nấu mà còn là niềm vui tinh thần trong những ngày Tết. Nó giúp gắn kết những mối dây tình cảm ruột thịt, gắn kết gia đình cùng tình làng nghĩa xóm. Không những thế, nó còn là một nét đẹp truyền thống của người dân Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Món Ăn Không Thể Thiếu Mâm Cơm Ngày Tết Miền Nam
  • Điểm Danh 7 Món Ăn Tăng Cân Ngày Tết, Xem Ngay!
  • Cỗ Tết Của Người Hà Nội
  • Món Ăn Ngon Lạ Miệng: Công Thức Cách Làm Mứt Dừa Ngon Thơm Bùi Cho Ngày Tết Ấm Cúng
  • Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Ngày Tết Hàn Thực 3/3 Âm Lịch
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100